Bệnh bạch cầu ở trẻ em: một căn bệnh ung thư chết người đã trở thành bệnh có thể điều trị như thế nào
(ourworldindata.org)- Bệnh bạch cầu ở trẻ em, từng có khả năng sống sót rất thấp sau chẩn đoán, nay đã trở thành căn bệnh mà khoảng 85% sống trên 5 năm tại Bắc Mỹ và châu Âu
- Loại phổ biến nhất, bệnh bạch cầu lymphoblastic cấp tính (ALL), đã tăng tỷ lệ sống sau 5 năm từ khoảng 14% vào thập niên 1960 lên 94% trong thập niên 2010
- Thành quả này không đến từ một loại thuốc mới đơn lẻ, mà là kết quả tích lũy của hóa trị kết hợp, phân tầng nguy cơ, các thử nghiệm lâm sàng quy mô lớn, nghiên cứu di truyền và phân tử, cùng chăm sóc hỗ trợ
- Bệnh bạch cầu dòng tủy cấp tính (AML) khó điều trị hơn ALL, nhưng tỷ lệ sống sau 5 năm đã cải thiện từ 14% vào thập niên 1970 lên hơn 60% hiện nay
- Ở các quốc gia thu nhập cao, bệnh đã gần trở thành một ung thư có thể điều trị, nhưng tại nhiều khu vực, chẩn đoán sớm và khả năng tiếp cận điều trị vẫn tạo ra khoảng cách về sống sót
Tỷ lệ sống sót của bệnh bạch cầu ở trẻ em đã thay đổi ra sao
- Trước đây, bệnh bạch cầu ở trẻ em hầu hết đều gây tử vong; trước thập niên 1970, tỷ lệ sống sau 5 năm sau chẩn đoán dưới 10%
- Hiện nay, tại Bắc Mỹ và châu Âu, khoảng 85% sống hơn 5 năm sau chẩn đoán
- Phạm vi dữ liệu chủ yếu là Bắc Mỹ và châu Âu; ở các khu vực khác, tỷ lệ tử vong do ung thư ở trẻ em cũng đã giảm nhưng vẫn cao hơn
- Trong mức giảm tử vong do ung thư ở trẻ em tại Mỹ, mức giảm của bệnh bạch cầu đặc biệt lớn; tỷ lệ tử vong đã giảm 14 lần
Vì sao bệnh bạch cầu chiếm tỷ trọng lớn trong ung thư ở trẻ em
- Bệnh bạch cầu là ung thư của máu và tủy xương, trong đó các bạch cầu chưa trưởng thành tăng sinh không kiểm soát, lấn át các tế bào máu khỏe mạnh và gây ra các triệu chứng như mệt mỏi, nhiễm trùng, dễ bầm tím hoặc chảy máu, da nhợt nhạt
- Tại Mỹ, bệnh bạch cầu là ung thư phổ biến nhất ở trẻ em, chiếm khoảng một phần tư tổng số ca ung thư trẻ em
- Trong thời thơ ấu, cơ thể tăng trưởng nhanh và quá trình sản xuất tế bào máu diễn ra mạnh, nên tủy xương phải liên tục tạo ra tế bào mới
- Mỗi lần tế bào phân chia đều có khả năng xảy ra lỗi DNA; càng phân chia nhiều thì khả năng một số lỗi dẫn đến ung thư cũng càng lớn
- Có hai loại chính của bệnh bạch cầu ở trẻ em
- ALL: bệnh bạch cầu lymphoblastic cấp tính, bắt đầu từ các tế bào lympho giai đoạn sớm và là loại phổ biến nhất
- AML: bệnh bạch cầu dòng tủy cấp tính, bắt đầu từ các tế bào tạo máu khác
- Phần lớn bệnh bạch cầu ở trẻ em bắt nguồn từ các đột biến di truyền phát sinh tự nhiên trong quá trình tế bào phân chia nhanh, và nhiều trường hợp xảy ra trước khi sinh
- Các trường hợp do đột biến di truyền được thừa hưởng hiếm gặp hơn; nhiều phơi nhiễm môi trường đã được khảo sát nhưng không có bằng chứng nhất quán về nguyên nhân môi trường
Cải thiện tỷ lệ sống sót của ALL và AML
- Dữ liệu thử nghiệm lâm sàng của Children’s Oncology Group bao gồm hàng chục nghìn trẻ em kể từ thập niên 1960 và hiện bao gồm hơn một nửa trẻ em mắc bệnh bạch cầu tại Mỹ
- Tỷ lệ sống sót của ALL cải thiện mạnh nhất
- Vào thập niên 1960, chỉ khoảng 14% trẻ mắc ALL sống hơn 5 năm sau chẩn đoán
- Dù điều trị có thể giúp cải thiện tạm thời, hầu hết đều tái phát và tử vong không lâu sau đó
- Đến thập niên 2010, tỷ lệ sống sau 5 năm tăng lên 94%
- Phân tích sống sót dài hạn cũng cho thấy phần lớn trẻ em vẫn sống sau 10 năm kể từ chẩn đoán, và sau giai đoạn điều trị ban đầu, khả năng sống dài hạn ổn định hơn nhiều
- Tỷ lệ sống sót của AML cũng cải thiện, nhưng không ngoạn mục như ALL
- AML chiếm khoảng 25% số ca bạch cầu ở trẻ em
- Vào thập niên 1970, tỷ lệ sống sau 5 năm là 14%, còn hiện nay là hơn 60%
- Các phác đồ điều trị tích cực có ảnh hưởng lớn đến cải thiện sống sót, và điều trị vẫn thường bao gồm nhiều năm hóa trị cường độ cao
- Hóa trị gây khó khăn cả về thể chất lẫn tinh thần và có thể gây tác dụng phụ dài hạn, nhưng các vấn đề sức khỏe mạn tính sau điều trị đã giảm, và sức khỏe dài hạn cũng cải thiện đáng kể
Hóa trị được tùy biến tinh vi hơn
- Trước thập niên 1940, trẻ được chẩn đoán mắc bệnh bạch cầu thường tử vong trong vòng vài tuần, và phương án điều trị khả thi duy nhất là chăm sóc giảm nhẹ
- Các thuốc hóa trị ban đầu như aminopterin và sau đó là 6-mercaptopurine có thể loại bỏ tạm thời tế bào bạch cầu, nhưng ung thư gần như luôn tái phát
- Trong thập niên 1950 và đầu thập niên 1960, nhiều thuốc hơn được xác định, và điều trị kết hợp dùng nhiều thuốc cùng lúc được thử nghiệm
- Xạ trị não và tủy sống nhằm loại bỏ các tế bào ung thư ẩn trong dịch não tủy đã được sử dụng, giúp loại bỏ tế bào bạch cầu còn sót lại trong hệ thần kinh trung ương
- Trong thập niên 1960 và 1970, hóa trị đa giai đoạn kéo dài 2–3 năm xuất hiện
- Điều trị được cấu trúc thành bốn giai đoạn: cảm ứng, củng cố, tăng cường trì hoãn và duy trì
- Mỗi giai đoạn dùng các tổ hợp thuốc hóa trị để loại bỏ tế bào bạch cầu và ngăn tái phát
- Các thử nghiệm lâm sàng cho thấy tỷ lệ sống sót hơn 50%, và các bệnh viện ở Bắc Mỹ và châu Âu đã áp dụng các nghiên cứu và phác đồ tương tự
- Trong thập niên 1980 và đầu thập niên 1990, người ta xác nhận rằng hóa trị tập trung vào dịch não tủy có thể bảo vệ não tương đương xạ trị sọ não, nhưng có ít tác dụng phụ dài hạn hơn nhiều
- Đến giữa thập niên 1990, rõ ràng một phác đồ đơn nhất không phù hợp với tất cả mọi người
- Các thử nghiệm lâm sàng quy mô lớn chia trẻ em thành nhóm nguy cơ dựa trên tuổi, số lượng bạch cầu và thông tin di truyền ban đầu
- Nhóm nguy cơ thấp có thể giảm tác dụng phụ bằng hóa trị nhẹ hơn, còn nhóm nguy cơ cao có thể tăng khả năng sống sót bằng hóa trị mạnh hơn
- Xét nghiệm bệnh tồn dư có thể đo được, bắt đầu được dùng rộng rãi vào đầu thập niên 2000, có thể phát hiện 1 tế bào bạch cầu trong 10.000 tế bào bình thường
- Xét nghiệm này được dùng để quyết định có giảm cường độ điều trị hay bắt đầu điều trị bổ sung hay không
- Những cải thiện lớn không chỉ đến từ việc phát minh thuốc mới mà còn từ tối ưu hóa cách phối hợp, liều lượng, thời điểm và thời gian dùng các thuốc hiện có
Hợp tác quy mô lớn đã thay đổi tiêu chuẩn điều trị
- Bệnh bạch cầu ở trẻ em là bệnh hiếm, nên một bệnh viện đơn lẻ khó thu thập đủ ca để đưa ra kết luận vững chắc
- Các nhà nghiên cứu đã lập các nhóm hợp tác quy mô lớn và ghi danh hàng nghìn trẻ vào nghiên cứu và thử nghiệm lâm sàng để kiểm tra các phác đồ điều trị an toàn và hiệu quả hơn
- Về sau, các nhóm nghiên cứu được hợp nhất thành các hệ thống hợp tác lớn hơn
- Children’s Oncology Group tại Bắc Mỹ
- International BFM Study Group tại châu Âu
- Tại Mỹ, hơn 50% trẻ mắc bệnh bạch cầu được ghi danh vào các thử nghiệm lâm sàng
- Sự phối hợp này đã nâng cao sức mạnh thống kê để phát hiện khác biệt giữa các phương pháp điều trị, đồng thời góp phần giảm các thực hành điều trị thiếu nhất quán vốn khác nhau giữa bệnh viện và bác sĩ
- Kết quả thử nghiệm lâm sàng dẫn đến các tiêu chuẩn điều trị tốt hơn, hóa trị được cải thiện và việc thu hẹp các thực hành có hại
- Xạ trị sọ não, từng thường được dùng để ngăn di căn lên não, có nguy cơ dài hạn lớn như suy giảm nhận thức và vấn đề tăng trưởng; hiện nay, phương pháp này thường được thay thế bằng các chiến lược dựa trên hóa trị có độc tính thấp hơn
Nghiên cứu di truyền, phân tử và các điều trị mới
- Nghiên cứu di truyền và phân tử đã làm sáng tỏ các đột biến gây bệnh theo từng phân nhóm bệnh bạch cầu, từ đó thay đổi cách điều trị
- Nghiên cứu này góp phần vào phân tầng nguy cơ, giúp xác định trẻ nào có khả năng hưởng lợi từ điều trị tiêu chuẩn và trẻ nào cần hóa trị mạnh hơn hoặc phương pháp điều trị khác
- Các thuốc nhắm đích chặn các đột biến ung thư cụ thể cũng đã xuất hiện
- Ví dụ tiêu biểu là imatinib (Gleevec)
- Ban đầu được phát triển để điều trị bệnh bạch cầu dòng tủy mạn tính ở người lớn
- Chặn một protein đột biến khiến tế bào bạch cầu tăng sinh nhanh
- Chỉ một số ít trẻ có đột biến này, nhưng trước đây tỷ lệ sống rất thấp và thường cần ghép tủy xương
- Trong thập niên 2000, khi imatinib được thêm vào hóa trị, tỷ lệ sống sót cải thiện rõ rệt và nhiều trẻ không còn cần ghép nữa
- Gần đây, liệu pháp miễn dịch, bao gồm liệu pháp tế bào CAR-T và điều trị bằng kháng thể, đang thay đổi cách điều trị
Chăm sóc hỗ trợ nâng đỡ khả năng sống sót
- Ngoài hóa trị, điều trị nhắm đích và liệu pháp miễn dịch, các cải thiện về chăm sóc hỗ trợ cũng rất quan trọng trong điều trị bệnh bạch cầu ở trẻ em
- Hóa trị có thể làm tổn thương các cơ quan chính và ức chế hệ miễn dịch, nên cần bảo vệ trẻ khỏi nhiễm trùng, chảy máu và biến chứng
- Trong vài thập niên qua, nhiều phương pháp điều trị và vaccine đã góp phần phòng ngừa biến chứng
- Truyền tiểu cầu định kỳ: Trước thập niên 1970, số lượng tiểu cầu thấp gây xuất huyết não hoặc ruột có thể tử vong trong quá trình hóa trị tích cực; khi các ngân hàng máu có thể thu thập và bảo quản chế phẩm tiểu cầu cô đặc ở nhiệt độ phòng, truyền máu hằng ngày trở nên thực tiễn và tử vong giảm
- Kháng sinh, thuốc kháng nấm và thuốc kháng virus: Được dùng để phòng ngừa và điều trị nhiễm trùng, nguyên nhân chính gây tử vong sớm trong hóa trị; gần đây, nhiều thuốc điều trị hơn đã được phê duyệt và bổ sung vào tiêu chuẩn điều trị
- Mở rộng vaccine: Vaccine phòng bệnh phế cầu, thủy đậu, rotavirus và các bệnh khác giúp ngăn ngừa những nhiễm trùng phổ biến nhưng có thể nghiêm trọng ở trẻ mắc ung thư
- Một số vaccine được khuyến nghị cho chính bệnh nhân, còn một số được khuyến nghị cho gia đình và người chăm sóc để giảm nguy cơ lây truyền nhiễm trùng
- Ghép tế bào gốc: Vẫn được dùng cho những ca khó nhất; thay vì xạ trị toàn thân và truyền lại tế bào tự thân như trước đây, ngày nay thường dùng hóa trị liều cao và tế bào gốc từ người hiến khác
Những khó khăn còn lại và khả năng tiếp cận trên toàn cầu
- Ngày nay, với các gia đình ở quốc gia thu nhập cao, chẩn đoán bệnh bạch cầu ở trẻ em không còn đồng nghĩa ngay với cái chết như trước
- Nhiều trẻ sống sót, hoàn tất điều trị, trở lại trường học và có thể kỳ vọng một cuộc sống dài hơn, khỏe mạnh hơn
- Trải nghiệm điều trị vẫn vô cùng khó khăn
- Các lần đến bệnh viện, tác dụng phụ mạnh và thời gian dài bất định tạo gánh nặng cảm xúc lớn
- Không phải mọi trẻ em đều được chữa khỏi
- Nguy cơ dài hạn của điều trị vẫn còn, dù đã giảm
- Trong vài thập niên, bệnh bạch cầu ở trẻ em đã chuyển từ một trong những bệnh nhi đáng sợ nhất thành một trong những ung thư có khả năng điều trị cao nhất
- Thách thức tiếp theo là bảo đảm những tiến bộ này đến được với trẻ em ở mọi khu vực
- Ở nhiều khu vực, chẩn đoán kịp thời và khả năng tiếp cận điều trị vẫn còn hạn chế
- Mở rộng khả năng tiếp cận trên toàn cầu là điều thiết yếu để mọi trẻ em có cơ hội sống lâu
1 bình luận
Ý kiến trên Hacker News
Con trai tôi được chẩn đoán B-ALL (RUNX1) vào năm 2020
Hôm nay là Ngày của Cha ở chỗ tôi nên tôi không muốn đi quá sâu, nhưng giờ cháu vẫn sống và khỏe mạnh. Hơn 2 năm trước, chúng tôi đã rung chuông kết thúc điều trị
Cháu được ghi danh vào nghiên cứu của Children’s Oncology Group được nhắc tới ở đây, và cũng nhận một điều chỉnh điều trị thử nghiệm dành riêng cho bệnh nhân nam
Khi con trai tôi bắt đầu điều trị, phác đồ khi đó áp dụng cho bé trai thêm khoảng 6 tháng điều trị vì giả định rằng tinh hoàn có thể là nơi ung thư ẩn náu. Nhưng dữ liệu cho thấy rất có thể giả định đó không đúng, và cái giá của việc hóa trị kéo dài còn tệ hơn nguy cơ còn sót lại
Chúng tôi rất may mắn khi từ chẩn đoán sớm cho tới từng lần có kết quả xét nghiệm máu đều gần như gặp mọi “kịch bản tốt nhất” có thể. Tôi đã nói khá nhiều về trải nghiệm này trên HN, dù nhiều bình luận bị chìm đi
Những bé trai trước tôi thậm chí còn phải phẫu thuật cắt bỏ một thứ gì đó ở tinh hoàn để loại trừ khả năng còn ổ ung thư ẩn náu. May là tôi không phải trải qua cuộc phẫu thuật đó
Tuy vậy, điều đáng chú ý là dù đã rất lâu kể từ khi tôi điều trị, chuyện này vẫn còn tiếp diễn. Ít nhất với ALL, tôi luôn có cảm giác các phác đồ điều trị đang có xu hướng ngắn hơn rất nhiều thay vì ngày càng hung hãn hơn, chính vì sự đánh đổi vừa nói ở trên
Đứa trẻ đó là một anh hùng. Bây giờ có thể còn quá nhỏ để hiểu mình đã làm được điều gì, nhưng mong bạn sẽ tiếp tục cho cháu biết điều đó
Một phần chưa được nói tới đủ nhiều trong ung thư nhi là tác động lên cả gia đình. Đặc biệt, cha mẹ cũng bước ra khỏi trải nghiệm này với sang chấn của riêng mình, và họ cũng cần được hồi phục
Nếu ai quan tâm, Stanford có chương trình Adolescent and Young Adult Cancer program (SAYAC) rất tuyệt. Tôi hy vọng sẽ có thêm nhiều nơi có chương trình tương tự, vì giá trị của nó thực sự rất lớn
Elephants and Tea là một tạp chí dành cho bệnh nhân, người sống sót và người chăm sóc trong nhóm thanh thiếu niên và người trưởng thành trẻ (AYA), rất đáng để tìm hiểu trải nghiệm của những người đang ở trong hoặc đã đi qua hành trình đó
Bố tôi bắt đầu làm bác sĩ huyết học-oncology nhi khoa vào cuối thập niên 1960. Ông có niềm tin rất vững chắc rằng thông qua nghiên cứu và chăm sóc lâm sàng tốt hơn, tỷ lệ chữa khỏi có thể tăng lên và thực tế sẽ tăng lên, và ông đã theo đuổi cả hai điều đó suốt đời
Mỗi khi ai đó hỏi làm sao ông có thể tích cực đến vậy, ông thường kể về xu hướng được nói tới trong bài này
Điều đó không làm nỗi đau mất bệnh nhân nhẹ đi, nhưng theo tôi biết thì bố tôi luôn nhìn về tương lai. Đây là một ví dụ phi thường của khoa học và y học
Em họ tôi mắc bệnh bạch cầu vào cuối thập niên 1970, khi mới chỉ 3 tuổi
Khi đó, nhất là ở Brazil, đây gần như là án tử, và mẹ của em ấy đã đi tìm hàng chục bác sĩ và chuyên gia
Khi tình trạng xấu đi nhanh chóng, bà còn thử cả những thứ phản khoa học như chữa lành tâm linh hay đồng cốt. Rồi bà khấn với Thánh Giuđa, vị thánh bảo trợ của giáo xứ mình, rằng bà sẽ giúp những người cùng cảnh ngộ
Khi ấy, cơ quan tương đương FDA của Brazil đang bàn việc có cho phép dùng Interferon để điều trị cho trẻ em hay không, và em họ tôi đã có thể tham gia thử nghiệm lâm sàng. Việc điều trị có hiệu quả và em ấy vẫn sống khỏe đến giờ, nhưng đáng tiếc là hậu quả điều trị khiến em bị vô sinh
Để giữ lời hứa, dì tôi đã tổ chức các buổi gặp mặt trong Rotary, gây quỹ và mở đấu giá từ thiện suốt nhiều năm, thậm chí còn nhận được đất hiến tặng. Trên khu đất đó, họ xây nên GPACI, một bệnh viện điều trị ung thư nhi, khai trương năm 1981 và hiện đã trở thành cột mốc tham chiếu cho nghiên cứu và điều trị ung thư nhi ở Brazil
Nếu muốn tìm hiểu thêm, đây là trang web https://www.gpaci.org.br/
Con gái tôi qua đời hồi đầu năm nay vì AML. Thật không may, AML khó điều trị hơn ALL rất nhiều. Cháu đã điều trị gần 3 năm và tái phát 2 lần. Trong 3 năm đó, khoảng 1 năm rưỡi tôi gần như “sống” cùng cháu trong bệnh viện
Phần lớn thuốc hóa trị mà con gái tôi nhận đã là nền tảng điều trị AML trong nhiều thập kỷ. Theo những gì bác sĩ nói với tôi, việc cải thiện tỷ lệ sống của AML chủ yếu đến từ chăm sóc hỗ trợ, tức là khả năng giữ cho bệnh nhân sống sót trong quá trình điều trị. Điều này có được nhờ việc điều trị nhiễm khuẩn và nhiễm nấm đã tốt hơn rất nhiều
AML là một bệnh rất không đồng nhất. Việc điều trị phụ thuộc rất nhiều vào các đột biến cụ thể mà bệnh nhân mang. Nghiên cứu chỉ có thể tập trung vào số lượng đột biến đích hạn chế tại mỗi thời điểm
Ngay trong 3 năm chúng tôi ở bệnh viện, tôi cũng đã thấy có tiến bộ. Tôi rất hy vọng trong tương lai gần, triển vọng cho những đứa trẻ có cùng đột biến như con gái tôi sẽ tốt hơn, và đặc biệt có thể là nhờ chất ức chế menin
Người bạn thân thứ hai thời thơ ấu của tôi đã qua đời vì bệnh bạch cầu khoảng 18 năm trước, khi chúng tôi chừng 10 tuổi. Đến giờ tôi vẫn thỉnh thoảng nhớ về bạn ấy, và ngay cả lúc viết những dòng này tôi vẫn cảm thấy buồn
Theo lời mẹ tôi, mẹ của bạn ấy là điều dưỡng trưởng khoa nhi nhưng đã không nhận ra bạn mình đang đổ bệnh, và rồi bạn ấy trở nặng rất nhiều
Bạn ấy đã trải qua hóa trị rồi sau đó là ghép tủy xương nhưng không khá lên. Tôi nghe nói do hóa trị mà bạn ấy mất thị lực, và càng sợ hãi hơn cho đến lúc qua đời
Cái chết đó để lại vết thương lớn cho gia đình, đặc biệt là với người chị em song sinh. Nghe nói mẹ của đứa trẻ đó từng quát vào mặt nó rằng: “Lẽ ra mày mới phải là đứa chết”
Ung thư trẻ em phá hỏng quá nhiều con người và các mối quan hệ. Tôi căm ghét sâu sắc sự tồn tại này, thứ dường như gần như ăn sâu vào thân phận con người
Tôi là một người sống sót sau ALL, được điều trị khoảng từ 1989 đến 1995. Tin này thực sự tiếp thêm cho tôi rất nhiều sức mạnh
Tôi sẽ không bao giờ quên những đợt nằm viện dài ngày, những ca phẫu thuật từ sáng sớm, và những ảnh hưởng lâu dài vẫn kéo dài cho đến hôm nay. Toàn bộ tính cách của tôi đã thay đổi
Tôi hy vọng một ngày nào đó chúng ta có thể hoàn toàn đè bẹp căn bệnh này. Không đứa trẻ nào nên phải trải qua chuyện như vậy. Tôi cũng hy vọng rằng dựa trên những gì đã học được ở phương Tây, mọi đứa trẻ đều có thể tiếp cận điều trị với chi phí chấp nhận được
Ảnh hưởng về mặt tính cách thì rất khó định lượng. Cháu bị tự kỷ nặng và hầu như không nói. Cháu được điều trị từ năm 3 đến 6 tuổi
Tác động lên phần còn lại của gia đình, tức cha mẹ và anh chị em, là cực kỳ lớn. Bản thân tôi vốn đã có vấn đề lo âu, và chấn thương não do phục vụ trong quân đội đã bật cái công tắc đó lên, giờ thì tôi mắc tình trạng mà bác sĩ gọi là PTSD liên quan đến sức khỏe
Bài này không giải thích rõ phần “bằng cách nào”. Mấu chốt nằm ở đoạn này
“Sự cải thiện tỷ lệ sống sót phản ánh tác động của các phác đồ điều trị cường độ cao. Những phương pháp điều trị này thường vẫn bao gồm nhiều năm hóa trị cường độ cao, gây kiệt quệ cả về thể chất lẫn tinh thần và có thể dẫn đến tác dụng phụ lâu dài”
“Phác đồ điều trị cường độ cao” là cách nói thuật ngữ chuyên môn khá vụng
Đúng ra phải nói là: “liều lượng phù hợp với kiểu gen, độ tuổi và phân nhóm bệnh của bệnh nhân”
Phần lớn tiến bộ trong hơn 20 năm qua đến từ việc xác định các biến thể gen chủ chốt bằng phân tích kiểu gen tiên tiến, bao quát nhiều khía cạnh của điều trị ung thư. Trong đó có các chất vận chuyển thuốc, các gen chuyển hóa thuốc (họ P450), các gen điều chỉnh tốc độ bài tiết, v.v.
Cũng cần nhấn mạnh rằng kho vũ khí thuốc thực tế cho đến gần đây không thay đổi nhiều, vậy mà vẫn có bước tiến lớn về lui bệnh và sống sót
Cuối cùng, xin ghi nhận công lao của các chương trình NIH, nguồn hỗ trợ nghiên cứu bên ngoài đã làm nên tất cả những điều này, và cả Bệnh viện Nghiên cứu Trẻ em Saint Jude ở Memphis, Tennessee, nơi nhận quyên góp từ khắp thế giới
Don Pinkel không được biết đến rộng rãi, nhưng ông là người tiên phong đã phát triển liệu pháp phối hợp đầu tiên, nâng tỷ lệ chữa khỏi bệnh bạch cầu lymphoblastic cấp ở trẻ em từ gần như 0 lên khoảng 50% tại St. Jude ở Memphis vào những năm 1960
https://www.smithsonianmag.com/innovation/childhood-leukemia...
Đây là kết quả mà nguồn tài trợ của chính phủ cho nghiên cứu khoa học cơ bản đã tạo ra. Thuế của các bạn đã mua được điều này, và đây cũng chính là thứ họ đang tìm cách phá hủy
Tôi là một người sống sót sau ALL. Không hoàn toàn chắc chắn, nhưng hình như tôi được điều trị từ mùa xuân năm 2000 đến 2003, trải dài qua cả cấp hai lẫn cấp ba
Việc điều trị rõ ràng để lại ảnh hưởng lâu dài, chủ yếu là vì các tác dụng phụ nghiêm trọng của điều trị. Trí nhớ ngắn hạn và khả năng tập trung sâu của tôi bị ảnh hưởng đáng kể, nhưng dù vậy tôi vẫn có thể lấy bằng khoa học máy tính và làm kỹ sư phần mềm
Điều gây sốc là tỷ lệ nghỉ học mạn tính ở Mỹ trên toàn quốc vào khoảng 30%. Dù đang điều trị ung thư, tôi cũng chỉ vừa chạm tới ngưỡng đó, tức là nghỉ khoảng 10% số buổi học. Việc có nhiều trẻ nghỉ học ngang mức bệnh nhân ung thư như vậy khiến tôi rất lo về hướng đi của nước Mỹ
Cũng cần nói rằng quá trình điều trị là gánh nặng lớn với gia đình. Gia đình hẳn không muốn đứa trẻ phải ở một mình trong thời gian nằm viện dài ngày, nhưng họ có thể không còn lựa chọn nào khác vì vẫn phải đi làm
Nhân tiện, nghỉ học mạn tính theo định nghĩa của Bộ Giáo dục Mỹ là “nghỉ hơn 10% số buổi học”. Tức là khoảng một ngày mỗi hai tuần, nên nghe không đến mức quá tệ. Ở mức đó thì đa số trẻ em vẫn có thể nhận được nền giáo dục khá ổn