1 điểm bởi GN⁺ 2024-03-25 | 1 bình luận | Chia sẻ qua WhatsApp

Xu hướng toàn cầu của ung thư khởi phát sớm

  • Đây là một nghiên cứu nhằm khảo sát gánh nặng toàn cầu của ung thư khởi phát sớm, phân tích tỷ lệ mắc, tỷ lệ tử vong, số năm sống điều chỉnh theo tàn tật (DALYs) và các yếu tố nguy cơ của 29 loại ung thư trên toàn thế giới từ năm 1990 đến 2019.
  • Từ năm 1990 đến 2019, tỷ lệ mắc ung thư khởi phát sớm trên toàn cầu đã tăng 79,1%, trong khi tỷ lệ tử vong tăng 27,7%.
  • Ung thư vú khởi phát sớm, ung thư khí quản và phổi, ung thư dạ dày, và ung thư đại trực tràng ghi nhận tỷ lệ tử vong và DALYs cao nhất trong năm 2019.
  • Trên toàn cầu, ung thư vòm họng khởi phát sớm và ung thư tuyến tiền liệt có xu hướng tăng tỷ lệ mắc nhanh nhất, trong khi ung thư gan khởi phát sớm có xu hướng giảm mạnh nhất.
  • Ung thư đại trực tràng khởi phát sớm nằm trong top 5 về DALYs ở cả nam và nữ.
  • Các khu vực có chỉ số nhân khẩu - xã hội (SDI) mức trung bình-cao và trung bình chịu gánh nặng ung thư khởi phát sớm lớn nhất.
  • Khi SDI tăng, tỷ lệ mắc ung thư khởi phát sớm có xu hướng tăng còn tỷ lệ tử vong có xu hướng giảm.
  • Dự báo đến năm 2030, số ca mắc và số ca tử vong do ung thư khởi phát sớm trên toàn cầu sẽ tăng lần lượt 31% và 21%.
  • Các yếu tố nguy cơ chính của ung thư khởi phát sớm gồm các rủi ro liên quan đến chế độ ăn (tiêu thụ quá nhiều thịt đỏ, thiếu trái cây, nạp quá nhiều natri, tiêu thụ ít sản phẩm từ sữa, v.v.), sử dụng rượu bia và hút thuốc.

Khác biệt về gánh nặng ung thư khởi phát sớm

  • Năm 2019, các loại ung thư khởi phát sớm gây gánh nặng bệnh tật lớn nhất ở nữ và nam lần lượt là ung thư vú và ung thư khí quản - phổi.
  • Ở các khu vực có chỉ số nhân khẩu - xã hội (SDI) thấp, phụ nữ có tỷ lệ tử vong và gánh nặng bệnh tật do ung thư khởi phát sớm cao hơn nam giới.

Gánh nặng ung thư khởi phát sớm theo khu vực

  • Năm 2019, khu vực Bắc Mỹ thu nhập cao ghi nhận tỷ lệ mắc chuẩn hóa theo tuổi (ASIR) của ung thư khởi phát sớm cao nhất.
  • Tây Phi cận Sahara và Trung Phi cận Sahara có ASIR thấp nhất.
  • Đông Á đứng đầu trong tất cả các khu vực về số ca mắc và số ca tử vong do ung thư khởi phát sớm.

Các yếu tố nguy cơ của ung thư khởi phát sớm

  • Các yếu tố nguy cơ chính của ung thư vú khởi phát sớm, ung thư khí quản và phổi, ung thư đại trực tràng, và ung thư dạ dày bao gồm sử dụng rượu bia, hút thuốc, các rủi ro về chế độ ăn, thiếu hoạt động thể chất và tăng đường huyết.

Dự báo ung thư khởi phát sớm giai đoạn 2020-2030

  • Từ năm 2020 đến 2030, ASIR của ung thư khởi phát sớm ở nữ được dự báo sẽ cao hơn nam.
  • Nhóm tuổi 40-44 và 45-49 được dự báo sẽ là các nhóm dân số chính trong số ca mắc và tử vong do ung thư khởi phát sớm.

Ý kiến của GN⁺

  • Nghiên cứu này đóng góp quan trọng vào việc nhận diện gánh nặng và xu hướng toàn cầu của ung thư khởi phát sớm. Đặc biệt, nó có thể giúp hiểu rõ hơn sự khác biệt theo khu vực về tỷ lệ mắc và tử vong.
  • Kết quả nghiên cứu cung cấp thông tin quan trọng để xây dựng các chiến lược phòng ngừa và quản lý ung thư khởi phát sớm. Ví dụ, chúng có thể được dùng để phát triển các chiến dịch y tế công cộng hoặc chương trình cải thiện lối sống nhằm giảm các yếu tố nguy cơ của ung thư khởi phát sớm.
  • Tuy nhiên, nghiên cứu này không làm sáng tỏ được các cơ chế cụ thể gây ra ung thư khởi phát sớm. Vì vậy, cần có thêm các nghiên cứu tiếp theo.
  • Vì các thói quen ăn uống và lối sống được cho là đóng vai trò quan trọng trong các yếu tố nguy cơ của ung thư khởi phát sớm, điều này gợi ý rằng các can thiệp vào những yếu tố này có thể mang lại hiệu quả.
  • Nghiên cứu này cũng có thể đặt ra câu hỏi về độ chính xác của kỹ thuật mô hình hóa được dùng để dự báo xu hướng ung thư khởi phát sớm. Các mô hình dự báo dựa trên nhiều giả định khác nhau và có thể không phản ánh hoàn hảo những sự kiện thực tế sẽ xảy ra trong tương lai.

1 bình luận

 
GN⁺ 2024-03-25
Ý kiến Hacker News
  • Lo ngại về ô nhiễm môi trường

    • Một người dùng cho biết ô nhiễm môi trường đã đến mức nghiêm trọng, và họ từng đọc một bài viết nói rằng giờ đây mưa rơi ở bất cứ đâu cũng không còn an toàn để uống.
    • Họ chỉ ra rằng PFAs có thể không gây ung thư, nhưng vấn đề ô nhiễm đã đạt đến mức cực đoan.
    • Họ bày tỏ hy vọng rằng vấn đề vi nhựa trong mây không có liên quan với nhau, đồng thời nói rằng việc loại bỏ vi nhựa không hề dễ dàng.
    • Họ cho rằng cần nỗ lực giảm thiểu mọi loại ô nhiễm, và vì không thể dự đoán chính xác tác động của ô nhiễm nên họ lo ngại cả về bụi lốp xe hay những tấm bạt nhựa màu xanh bị phân hủy khi phơi dưới nắng.
    • Họ cho rằng những gì chúng ta đang làm là không tốt, nhưng chúng ta lại gặp khó khăn trong việc thừa nhận điều đó.
  • Phân tích về thay đổi trong tỷ lệ mắc ung thư

    • Một người dùng nhắc đến biểu đồ cho thấy tỷ lệ mắc ung thư tăng mạnh ở các quốc gia Nam Mỹ và châu Phi, trong khi ở các nước phương Tây thì chủ yếu giảm.
    • Họ suy đoán rằng sự gia tăng ở các khu vực đó có thể liên quan đến việc khả năng tiếp cận y tế được cải thiện, và nhìn chung đây có thể là một hiện tượng tích cực.
  • Hiểu lầm về tỷ lệ mắc ung thư

    • Một người dùng khác chỉ ra rằng mức tăng số ca ung thư không tính đến tăng trưởng dân số, và chỉ trích đây là một ví dụ tệ về truyền thông khoa học.
    • Họ cho rằng việc tiêu đề nghiên cứu chỉ nhấn mạnh số ca ung thư mà không xét đến tăng trưởng dân số toàn cầu là không phù hợp.
  • Đề cập đến việc giảm tỷ lệ tử vong do ung thư

    • Họ nhắc đến biểu đồ cho thấy tỷ lệ mắc ung thư đã hiệu chỉnh theo tuổi chỉ tăng nhẹ từ năm 1990 đến 2019, trong khi tỷ lệ tử vong do ung thư đã hiệu chỉnh theo tuổi lại giảm đáng kể ở cả hai giới.
  • RF như một yếu tố gây stress sinh học

    • Một người dùng nhắc đến nghiên cứu cho rằng RF (tần số vô tuyến) có thể làm tăng tác động của các chất gây ung thư hóa học, đồng thời chỉ ra rằng các yếu tố gây stress sinh học như vậy đang bị nhắc đến quá ít.
  • Câu hỏi về nguyên nhân làm tăng tỷ lệ mắc ung thư

    • Họ đặt câu hỏi liệu việc tăng tỷ lệ mắc ung thư là do bệnh thực sự gia tăng, hay do khả năng phát hiện sớm hơn và nhạy hơn.
  • Mối quan hệ giữa thực phẩm và tỷ lệ mắc ung thư

    • Họ trích câu "Bạn ăn gì thì bạn là cái đó" và đặt câu hỏi về những công ty như Monsanto và Bayer khi tiêu thụ thực phẩm ở Mỹ.
    • Họ nhắc rằng các thành phần được thêm vào thực phẩm như chất bảo quản có thể ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc ung thư, ví dụ như đặt dấu hỏi về sự cần thiết của dầu canola trong các gói hạt hỗn hợp.
    • Họ cũng chỉ ra các yếu tố khác ảnh hưởng đến hormone, chẳng hạn thuốc tránh thai mà nhiều người đang dùng hoặc vấn đề béo phì do tiêu thụ quá nhiều đường.
  • Mối quan hệ giữa việc ít tiếp xúc ánh nắng thời thơ ấu và giảm tỷ lệ mắc ung thư

    • Họ suy đoán rằng việc giảm tiếp xúc với ánh nắng trong thời thơ ấu có thể là nguyên nhân làm giảm tỷ lệ mắc ung thư.
    • Họ nhắc đến việc người lớn càng có nhiều ung thư biểu mô tế bào đáy và ung thư biểu mô tế bào vảy tương đối ít nghiêm trọng thì nhìn chung càng khỏe mạnh hơn, và tỷ lệ mắc các loại ung thư này có liên quan đến mức độ tiếp xúc ánh nắng trong thời thơ ấu.