1 điểm bởi GN⁺ 4 giờ trước | Chưa có bình luận nào. | Chia sẻ qua WhatsApp
  • Nghiên cứu kéo dài 30 năm của Richard Horner về hô hấp trong giấc ngủ đã dẫn tới việc phát triển một loại thuốc mới nhắm vào các cơ chế thần kinh và cơ bắp của chứng ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn
  • Ước tính chứng ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn ảnh hưởng tới 1,6 tỷ người trưởng thành trên toàn thế giới, và tại Canada, hơn 1 trong 4 người được cho là mắc tình trạng này
  • Sự suy giảm noradrenaline trong giấc ngủ REM và tác động của thụ thể muscarinic có thể làm giảm trương lực cơ lưỡi, gây tắc nghẽn đường thở
  • AD109 là liệu pháp uống hằng ngày kết hợp một loại thuốc làm tăng nồng độ noradrenaline với một thuốc chẹn thụ thể muscarinic
  • Trong thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên giai đoạn 3, người dùng AD109 có ít tình trạng tắc nghẽn đường thở hơn và mức oxy cao hơn so với nhóm dùng giả dược, làm tăng khả năng trở thành phương án thay thế CPAP

Chứng ngưng thở khi ngủ và bối cảnh nghiên cứu

  • Giáo sư Richard Horner của University of Toronto đã nghiên cứu suốt 30 năm về các dây thần kinh, cơ bắp và cơ chế điều hòa hô hấp trong khi ngủ, và công trình này đã dẫn tới việc phát triển một loại thuốc mới điều trị ngưng thở khi ngủ
  • Horner là giáo sư medicinephysiology tại Temerty Faculty of Medicine, University of Toronto, và nghiên cứu những gì xảy ra khi quá trình hô hấp trong lúc ngủ bị trục trặc, như trong chứng ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn
  • Loại thuốc mới nhắm vào hai con đường mà nhóm của Horner xác định là động lực cốt lõi của chứng ngưng thở khi ngủ, và gần đây đã cho kết quả tích cực trong thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3
  • Chứng ngưng thở khi ngủ gây ra tình trạng các cơ đường hô hấp trên liên tục xẹp xuống trong lúc ngủ, dẫn tới các cơn ngừng thở thường xuyên; nếu không được điều trị, về lâu dài có thể làm tăng nguy cơ tăng huyết áp, bệnh tim, bệnh chuyển hóa và suy giảm nhận thức
  • Người bệnh có thể tỉnh giấc hàng trăm lần trong một đêm mà không nhất thiết nhận ra điều đó, và kết quả là cùng với cơn buồn ngủ, não và cơ thể liên tục rơi vào tình trạng thiếu oxy suốt đêm
  • Theo nghiên cứu năm 2024 trên Canadian Journal of Public Health, ước tính hơn 1 trong 4 người Canada mắc chứng ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn, nhưng trong số những người có bệnh mạn tính, tỷ lệ được chẩn đoán chính thức là dưới 10%
  • Ước tính chứng ngưng thở khi ngủ ảnh hưởng tới 1,6 tỷ người trưởng thành trên toàn thế giới

Cách đường thở hoạt động khi ngủ

  • Nghiên cứu về giấc ngủ của Horner bắt đầu vào đầu những năm 1990 khi ông học tiến sĩ tại University of London, nơi ông làm việc tại một trong những phòng thí nghiệm nghiên cứu giấc ngủ đầu tiên ở Anh
  • Năng lực nghiên cứu về giấc ngủ của University of Toronto là lý do Horner chuyển tới Toronto để làm nghiên cứu sau tiến sĩ với Eliot Phillipson
  • Eliot Phillipson là bác sĩ lâm sàng kiêm nhà nghiên cứu tại University of Toronto, người đã thành lập một trong những phòng thí nghiệm nghiên cứu giấc ngủ trên người đầu tiên ở Bắc Mỹ vào năm 1978 để nghiên cứu các rối loạn hô hấp
  • Sau khi hoàn thành nghiên cứu sau tiến sĩ lần thứ hai tại University of Pennsylvania, Horner trở lại University of Toronto vào năm 1997 với tư cách giảng viên
  • Vào thời điểm đó, phần lớn các mô hình chỉ mô phỏng những hành vi tương tự giấc ngủ, nên mục tiêu đầu tiên của Horner là tạo ra các công cụ và mô hình mới để nghiên cứu giấc ngủ và hô hấp hiệu quả hơn
  • Phòng thí nghiệm của Horner đã tiên phong xây dựng các mô hình giúp xác định những chất hóa học não và thụ thể chủ chốt điều hòa hoạt động của cơ hô hấp trong giấc ngủ tự nhiên

Hai phát hiện then chốt

  • Năm 2006, nhóm của Horner lần đầu xác nhận rằng noradrenaline đóng vai trò quan trọng trong việc kích hoạt cơ lưỡi khi thức và ở một số giai đoạn ngủ nhất định
  • Lưỡi không chỉ quan trọng đối với việc nói và nuốt mà còn là cơ đường hô hấp trên lớn nhất và có ảnh hưởng mạnh nhất trong việc duy trì luồng không khí đi vào phổi
  • Trong giấc ngủ REM, khi giấc mơ xuất hiện nhiều nhất và hoạt động não ở mức cao, nồng độ noradrenaline trong não giảm xuống, làm giảm trương lực cơ lưỡi và gây khó thở ở một số người
  • Năm 2013, nhóm nghiên cứu công bố một phát hiện quan trọng khác: một nhóm protein gọi là thụ thể muscarinic có tác dụng ức chế chuyển động của lưỡi trong giấc ngủ REM
  • Khi nhóm nghiên cứu dùng thuốc chặn thụ thể muscarinic, cơ lưỡi được hoạt hóa mạnh mẽ

AD109 và kết quả lâm sàng giai đoạn 3

  • Các phát hiện từ phòng thí nghiệm của Horner đã làm rõ hai động lực chính của chứng ngưng thở khi ngủ: sự mất đi tín hiệu “go” của noradrenaline và tín hiệu “stop” qua trung gian thụ thể muscarinic
  • Hai tín hiệu này cùng tác động để ngăn chuyển động của lưỡi trong lúc ngủ và cản trở hô hấp
  • Công trình lập bản đồ mạch thần kinh của phòng thí nghiệm Horner đã trở thành nền tảng cho liệu pháp mới AD109 do các nhà nghiên cứu ở Boston phát triển
  • AD109 là thuốc uống dùng hằng ngày nhắm vào hai con đường góp phần gây ngưng thở khi ngủ, bao gồm một thuốc làm tăng nồng độ noradrenaline và một thuốc chặn thụ thể muscarinic
  • Trong thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên giai đoạn 3 vừa được công bố, những bệnh nhân ngưng thở khi ngủ từ nhẹ đến nặng dùng AD109 có ít tình trạng tắc nghẽn đường thở hơn và mức oxy cao hơn so với những người dùng giả dược
  • Những người tham gia dùng AD109 có số lần ngừng thở hoặc thở rất nông trong mỗi giờ ngủ ít hơn trung bình 4 lần

Giới hạn của CPAP và khả năng trở thành phương án thay thế

  • Hiện nay, phương pháp điều trị được kê đơn phổ biến nhất cho chứng ngưng thở khi ngủ là CPAP, tức ngủ với một mặt nạ nối với máy cung cấp áp lực không khí liên tục
  • CPAP rất hiệu quả, nhưng nhiều người cảm thấy khó chịu và bất tiện nên khó duy trì sử dụng đều đặn
  • Nếu AD109 được cơ quan quản lý phê duyệt, nó có thể trở thành một lựa chọn thay thế giá trị cho những người khó dung nạp CPAP
  • Horner không trực tiếp tham gia phát triển AD109, nhưng ông cũng không ngờ rằng nghiên cứu khoa học cơ bản lại có thể mở rộng thành một phương pháp điều trị lâm sàng như vậy
  • Nghiên cứu của Horner đã nhận được sự hỗ trợ liên tục từ Canadian Institutes of Health Research từ năm 1998

Chưa có bình luận nào.

Chưa có bình luận nào.