2 điểm bởi GN⁺ 2025-05-22 | 3 bình luận | Chia sẻ qua WhatsApp
  • Nguyên nhân thâm hụt thương mại của Mỹ không chỉ là xuất khẩu không bắt kịp nhập khẩu, mà còn đến từ hiện tượng kinh tế vĩ mô là thiếu tiết kiệm trong nước
  • Cấu trúc của nền kinh tế là đầu tư được thực hiện nhờ dòng vốn từ nước ngoài do tiết kiệm trong nước thấp hơn chi tiêu đầu tư
  • Chính sách thương mại có ảnh hưởng đến xuất khẩu và nhập khẩu, nhưng quy mô thâm hụt thương mại chỉ giảm khi khoảng cách giữa tiết kiệm và đầu tư thay đổi
  • Sự sụt giảm nhập khẩu của một số mặt hàng cụ thể (ví dụ: dầu mỏ) không làm thâm hụt thương mại giảm đi; trên thực tế, thâm hụt tổng thể có liên hệ chặt chẽ với khoảng cách tiết kiệm
  • Việc thu hẹp thâm hụt thương mại đòi hỏi phải giảm đầu tưtăng tiết kiệm, nên sẽ đi kèm với quá trình điều chỉnh trong nền kinh tế nội địa

Cấu trúc cơ bản của thâm hụt thương mại Mỹ

Lý do rõ ràng nhất khiến Mỹ liên tục ghi nhận thâm hụt thương mại là xuất khẩu không tăng trưởng nhanh bằng nhập khẩu. Tuy nhiên, một nguyên nhân ít hiển nhiên hơn là mất cân đối kinh tế vĩ mô, cụ thể là tình trạng thiếu hụt kéo dài trong tỷ lệ tiết kiệm nội địa. Theo hạch toán quốc gia, thâm hụt thương mại xuất hiện khi tiết kiệm trong nước không đủ để đáp ứng chi tiêu đầu tư trong nước, và phần thiếu hụt này được bù đắp bằng dòng vốn từ nước ngoài. Vì vậy, để giải quyết mất cân bằng thương mại, cần либо tăng xuất khẩu, либо tăng tiết kiệm trong nước để thu hẹp khoảng cách giữa đầu tư và tiết kiệm

Cách hiểu theo hạch toán và cơ chế vận hành

Tiết kiệm và đầu tư trong nền kinh tế đóng

  • Nếu kinh tế Mỹ tách biệt với bên ngoài thì tổng thu nhập sẽ được phân bổ vào tiêu dùng và tiết kiệm, còn tổng chi tiêu sẽ gồm tiêu dùng và đầu tư
  • Nếu loại trừ tiêu dùng thì chi tiêu đầu tư = tiết kiệm trong nước
  • Đầu tư mang tính sản xuất nhất thiết phải xuất phát từ tiết kiệm trong nước

Dòng vốn trong nền kinh tế mở

  • Khi các giao dịch tài chính quốc tế trở nên khả thi, tiết kiệm trong nước và chi tiêu đầu tư có thể chênh lệch nhau
  • Mỹ đang thiếu tiết kiệm nên phải hút vốn từ nước ngoài để tài trợ cho đầu tư
  • Về mặt chính thức, chi tiêu đầu tư = tiết kiệm trong nước + tiết kiệm nước ngoài (dòng vốn tài chính ròng chảy vào)

Mối liên hệ với thương mại quốc tế

  • Nếu xuất khẩu và nhập khẩu bằng nhau thì cán cân thương mại ở trạng thái cân bằng
  • Nếu nhập khẩu > xuất khẩu thì phần thiếu hụt sẽ được bù bằng hình thức vốn nước ngoài mua tài sản của Mỹ
  • Nhập khẩu = xuất khẩu + giá trị bán ròng tài sản Mỹ (dòng vốn tài chính chảy vào)
  • Dòng vốn tài chính này có thể dễ dàng chuyển thành các khoản đầu tư khác, và tổng quy mô vay mượn của Mỹ được tính ra như nhau theo cả hai cách

Các số liệu và xu hướng chính

Diễn biến của tiết kiệm và chi tiêu đầu tư

  • Từ năm 2000, chi tiêu đầu tư (so với GDP) liên tục cao hơn tỷ lệ tiết kiệm
  • Do khủng hoảng tài chính năm 2008, cả đầu tư và tiết kiệm đều giảm, nhưng đầu tư giảm mạnh hơn
  • Sau đó tiết kiệm phục hồi và khoảng cách có phần thu hẹp, nhưng gần đây tiết kiệm lại giảm sau đại dịch, trong khi tỷ trọng đầu tư vẫn được duy trì ổn định
  • Nhìn chung, tiết kiệm luôn thấp hơn đầu tư

Thay đổi tiết kiệm của hộ gia đình, doanh nghiệp và chính phủ

  • Tiết kiệm doanh nghiệp cho thấy xu hướng ổn định
  • Tiết kiệm hộ gia đình phục hồi sau khủng hoảng tài chính, tăng vọt tạm thời trong giai đoạn đại dịch rồi gần đây duy trì ở mức thấp
  • Tiết kiệm của chính phủ và tiết kiệm hộ gia đình cho thấy hiệu ứng bù trừ lẫn nhau, giúp giảm biến động của tổng tiết kiệm
  • Cũng quan sát thấy hiện tượng mức tiết kiệm cao mà hộ gia đình tích lũy trong đại dịch hiện đang được tiêu dùng dần

Khác biệt giữa góc nhìn vĩ mô và vi mô

  • Các chính sách thương mại như hiệp định thương mại tự do, reshoring... có thể ảnh hưởng đến việc tăng hoặc giảm xuất nhập khẩu, nhưng quy mô thâm hụt thương mại rốt cuộc vẫn bị chi phối bởi khoảng cách giữa tiết kiệm và đầu tư
  • Trên thực tế, dù thâm hụt nhập khẩu dầu mỏ đã biến mất, thâm hụt thương mại tổng thể vẫn không giảm khi khoảng cách tiết kiệm nới rộng
  • Việc giảm phụ thuộc nhập khẩu ở một số mặt hàng cụ thể không lập tức dẫn đến thu hẹp thâm hụt thương mại

Những tranh luận xoay quanh thâm hụt thương mại

  • Thâm hụt thương mại đồng nghĩa với việc tài sản trong nước bị bán cho nước ngoài, khiến thu nhập từ vốn chảy ra nước ngoài
  • Tuy nhiên, theo góc nhìn khoảng cách tiết kiệm, vay mượn từ nước ngoài lại gắn với việc mở rộng đầu tư trong nước và tăng năng lực sản xuất của nền kinh tế Mỹ
  • Muốn giảm thâm hụt thương mại thì phải tăng tiết kiệm hoặc giảm đầu tư, nên cần có điều chỉnh trong nền kinh tế nội địa
  • Trong quá khứ, những thời điểm thâm hụt thương mại của Mỹ giảm mạnh (ví dụ: suy thoái năm 2008) cho thấy đầu tư giảm trước, sau đó tiết kiệm tăng lên

Kết luận

Thâm hụt thương mại của Mỹ không chỉ bắt nguồn từ tỷ trọng xuất nhập khẩu mà còn từ mất cân đối cơ cấu giữa tiết kiệm trong nước và đầu tư. Vì vậy, rất khó giải quyết vấn đề này chỉ bằng chính sách thương mại; về bản chất cần đến các biện pháp kinh tế vĩ mô như cải thiện tỷ lệ tiết kiệm và quản lý chi tiêu đầu tư. Những thay đổi như vậy sẽ đi kèm với quá trình điều chỉnh cơ cấu trong nền kinh tế nội địa, nên cần một cách tiếp cận từng bước và thận trọng

3 bình luận

 
manssutt 2025-05-23

Viết dài dòng một điều rất đơn giản.. Mỹ muốn đồng USD trở thành đồng tiền dự trữ của thế giới, mà để làm được vậy thì thay vì bán nhiều hàng để USD tích lại ở Mỹ, họ phải mua nhiều hàng để USD lan ra khắp thị trường toàn cầu.

 
det7eng 2025-05-27

Tôi nghĩ đặc sản lớn nhất của Mỹ là đồng đô la

 
GN⁺ 2025-05-22
Ý kiến Hacker News
  • Tôi ngày càng cảm thấy rằng khi đồng tiền của một quốc gia trên thực tế được dùng như đồng tiền dự trữ toàn cầu, thì quốc gia đó gần như tất yếu sẽ rơi vào cấu trúc thâm hụt thương mại. Các nước khác không thể tự tạo ra đô la, nên họ buộc phải kiếm đô la bằng cách cung cấp hàng hóa và dịch vụ mà Mỹ có nhu cầu. Sau đó, họ cũng có thể dùng số đô la đó để giao thương với các nước khác. Về phía Mỹ, đổi lại họ có được ảnh hưởng chính trị khổng lồ và thông tin tình báo thị trường, nhưng mặt trái là ngành sản xuất trong nước suy yếu và hàng hóa thương mại rơi vào trạng thái thâm hụt. Giải pháp được nêu ra là cần một đồng tiền dự trữ quốc tế dựa trên rổ tiền tệ đa quốc gia thay vì dựa trên từng quốc gia riêng lẻ. Keynes từng đề xuất điều này vào thời Bretton Woods, nhưng Mỹ đã không chấp nhận

    • Mỹ không chỉ đơn thuần có được ảnh hưởng chính trị, mà còn có thể dễ dàng sở hữu một lượng hàng hóa và dịch vụ khổng lồ. Ví dụ, ở Trung Quốc, người lao động đổ mồ hôi làm việc 12 giờ mỗi ngày, 6 ngày mỗi tuần để tạo ra đồ điện tử và các nhu yếu phẩm rồi gửi sang Mỹ, còn thứ họ nhận lại về bản chất chỉ là những con số gọi là đô la. Vì vậy, quan điểm này cho rằng bên hy sinh không phải là Mỹ. Tuy nhiên, cũng thừa nhận rằng nếu hệ thống này sụp đổ, Mỹ có thể phải đối mặt với nỗi đau rất lớn vì đã đánh mất khả năng tự sản xuất. Rốt cuộc điều này khá giống với cuộc đời của một nhà sáng lập: bán startup khi còn trẻ để sống giàu sang, rồi đến tuổi 50 lại trắng tay

    • Có câu kiểu như “Mỹ khẳng định rằng người ta phải dùng số đô la kiếm được để giao dịch với các nước khác”, nhưng điều đó dường như bỏ qua khái niệm eurodollar cũng như vai trò lớn mà London và EU từng có trong việc khiến đô la trở thành đồng tiền dự trữ. Ngay cả khi Mỹ không ép buộc hay đòi hỏi gì, nhu cầu về đô la vẫn tự nhiên xuất hiện vì Mỹ là một nền kinh tế rất lớn. Ngược lại, eurodollar còn làm suy giảm khả năng kiểm soát tiền tệ của Mỹ; đôi khi điều đó giúp làm dịu suy thoái, nhưng mặt khác cũng tạo ra các tình huống mà Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) không thể kiểm soát được các vấn đề liên quan đến lạm phát. Vì vậy, lập trường của Mỹ là họ sẽ thích quyền kiểm soát đối với đồng tiền của mình hơn là thứ ảnh hưởng toàn cầu mơ hồ và gây tranh cãi đó

    • Như Adam Smith đã chỉ ra từ lâu, thâm hụt thương mại không phải là một khái niệm quá có ý nghĩa, và tôi không hiểu vì sao người ta lại ám ảnh quá mức với thâm hụt thương mại của Mỹ. Trên thực tế, ngay cả thâm hụt thương mại giữa Mỹ và EU cũng không lớn đến vậy nếu tính cả dịch vụ. Trong thế kỷ 21, dịch vụ số có giá trị gia tăng cao mới là mặt hàng xuất khẩu chủ lực, và Mỹ đang “xuất khẩu” những dịch vụ như thế ra toàn thế giới

    • Tôi đang đặt câu hỏi liệu mọi giao dịch bằng đô la có thực sự nhất thiết phải đi qua các tổ chức của Mỹ hay không. Trên thực tế, thị trường eurodollar bắt đầu từ London, Anh là một ví dụ cho thấy các giao dịch bằng đô la có thể diễn ra mà không cần sự giám sát của Bộ Tài chính Mỹ. Có lẽ Hong Kong cũng sẽ sớm chứng kiến một tình huống tương tự

    • Tôi không thể đồng ý nhiều với lập luận rằng “ngành công nghiệp nội địa của Mỹ đang sụp đổ”. Thương mại diễn ra dựa trên lợi ích song phương. Nếu hạn chế thương mại, thì kỳ vọng rằng Mỹ sẽ tự sản xuất cùng số lượng vật chất đó và vẫn giàu như hiện nay chỉ là ảo tưởng. Thực tế là một số mặt hàng sẽ không còn tồn tại, và tất cả mọi người chỉ có thể sống với ít hàng hóa hơn hiện tại. Tự cung tự cấp mọi thứ đơn giản là điều phi thực tế

  • Tác giả đã bỏ qua việc hoạt động kinh tế không nhất thiết là trò chơi có tổng bằng 0. Mỹ là quốc gia tạo ra startup rất mạnh, và việc liên tục lập ra các doanh nghiệp mới như vậy thu hút vốn nước ngoài, từ đó trên bề mặt làm thâm hụt thương mại trông lớn hơn. Nói cách khác, Mỹ đang “xuất khẩu” cổ phần doanh nghiệp ra toàn thế giới, nhưng đó là một kiểu thương mại không được đo bằng thước đo giao dịch hàng hóa của thế kỷ 19. Tuy nhiên, xét về biên lợi nhuận thì đây là loại xuất khẩu hấp dẫn hơn hàng hóa đơn thuần rất nhiều. Nếu thâm hụt thương mại thực sự là vấn đề nghiêm trọng, thì lẽ ra Mỹ đã phải đối mặt với tình trạng thiếu ngoại tệ và buộc phải phát hành ồ ạt đô la từ lâu rồi, nhưng thực tế chưa từng như vậy

    • Có cảm giác như chính sách của chính phủ đang xem mọi hoạt động kinh tế như một trò chơi tổng bằng 0. Chính quyền hiện tại ở Nhà Trắng dường như có hai niềm tin: “mọi trò chơi đều là tổng bằng 0” và “có thể tùy ý rung lắc các thể chế và cơ quan”, và trong bầu không khí đó, mọi người bắt đầu tin rằng kinh tế cũng là một trò chơi tổng bằng 0

    • Đầu tư từ vốn nước ngoài đồng nghĩa với khả năng có dòng tiền chảy ra tiêu cực trong tương lai. Nếu các nhà đầu tư muốn thu hồi lợi nhuận và vốn gốc trong tương lai, thì dòng vốn vào là tích cực khi nó cân bằng được, nhưng nhìn vào vị thế đầu tư quốc tế ròng của Mỹ (NIIP), con số đang ở mức khoảng -27 nghìn tỷ USD. Kết quả của thâm hụt thương mại đang được phản ánh nguyên vẹn vào con số đó

    • Việc xuất khẩu quyền sở hữu doanh nghiệp ở cấp quốc gia về bản chất là một dạng nợ khác. Nó giống như lấy trước sản lượng tương lai để dùng ngay trong hiện tại. Ở thời điểm này, Mỹ đang ở trạng thái nhập ròng hàng hóa, và đến lúc việc trả nợ cùng chuyển lợi nhuận ra nước ngoài bắt đầu diễn ra nghiêm túc, Mỹ sẽ phải xuất ra bên ngoài lượng hàng hóa tương đương 5–10% GDP, mà điều đó trên thực tế là bất khả thi về mặt chính trị

    • Có ý kiến cho rằng đầu tư nước ngoài vào thị trường bất động sản Mỹ thường không được gắn với cách tính thâm hụt thương mại truyền thống. Nếu đó là dạng của cải được chia sẻ khá cân bằng giữa hai nước, như bất động sản, thì có thể nó không phản ánh nhiều vào thâm hụt thương mại thực tế. Tôi cũng tự hỏi liệu đầu tư doanh nghiệp có tương tự như vậy không

    • Các ngân hàng trung ương của mỗi nước theo đuổi việc đa dạng hóa rổ tiền tệ để ngăn rủi ro lạm phát. Đô la ổn định nên người ta ưa chuộng trái phiếu chính phủ Mỹ, nhưng rốt cuộc chính phủ Mỹ lại dùng số ngoại tệ tích lũy được để tiếp tục mua các tài sản thực hoặc hàng hóa như dầu mỏ, thép... nhằm giảm thiểu biến động tỷ giá

  • Tôi có cảm giác bài này được viết bởi Fed New York để thuyết phục người Mỹ yêu nước hơn, tiết kiệm nhiều hơn và bớt mua hàng nhập khẩu giá rẻ. Nhưng nó đã bỏ qua vài vấn đề quan trọng. (1) Thâm hụt thương mại xuất hiện vì tiêu dùng của Mỹ không được dùng cho nhu cầu nội địa Mỹ mà chủ yếu dồn vào hàng hóa sản xuất tại Trung Quốc. (2) Lạm phát giá tài sản cũng đang làm nguồn cung tiền tăng vọt. (3) Tiết kiệm trong nước của Mỹ không có nghĩa là nó sẽ đi vào đầu tư thực tế. Doanh nghiệp tích trữ tiền mặt chứ không dùng vào đầu tư vật chất như thiết bị hay nhà máy, và tiền tiết kiệm cứ nằm trong tài khoản mà không được sử dụng thật sự. (4) Vai trò thực sự của Fed là ổn định và nâng đỡ giá tài sản. (5) Dòng vốn nước ngoài đổ vào cũng trên thực tế tập trung vào tài sản thực như doanh nghiệp hay bất động sản, nên từ “đầu tư” chỉ là cách nói làm đẹp, và người này cho rằng càng nhiều tài sản Mỹ thuộc sở hữu nước ngoài thì giá trị của chúng lại càng có xu hướng giảm

    • Tôi hoàn toàn phản bác lập luận rằng “tiết kiệm không trực tiếp gắn với đầu tư vật chất trong nước”. Ngân hàng tạo ra các khoản vay từ nguồn tiền như tiền gửi, và phần lớn các khoản vay đó được dùng cho đầu tư doanh nghiệp hoặc bất động sản. Việc giá tài sản tăng lên, chẳng hạn do mua cổ phiếu, rốt cuộc cũng dẫn tới đầu tư doanh nghiệp. Việc doanh nghiệp nắm giữ tiền mặt cũng có nghĩa là tài sản được gửi đó sẽ được dùng cho các nơi cần vốn đầu tư, còn bản thân doanh nghiệp chỉ giữ mức thanh khoản cần thiết cho vận hành. Việc vốn nước ngoài mua bất động sản và tài sản ở Mỹ cũng là đầu tư. Người sở hữu tòa nhà hay tài sản đó sẽ dùng khoản tiền nhận được để xây dựng một tài sản sản xuất khác, nên dù quyền sở hữu có đổi tay thì tài sản sản xuất trong nước Mỹ vẫn tiếp tục được tích lũy
  • Lập luận rằng “giảm thâm hụt thương mại chắc chắn sẽ đau đớn” là đúng về mặt kinh tế học, nhưng thực tế không đơn giản như thế. Ví dụ, trong những tình huống cực đoan như chiến tranh, việc có nhà máy trong nước và một đồng tiền bị định giá thấp lại quan trọng hơn. Nếu tất cả chỉ là một trạng thái chân không hòa bình nơi ai cũng mua bán widget, thì sống như một quốc gia có đồng tiền dự trữ toàn cầu và thâm hụt thương mại rõ ràng là chiến lược tốt hơn; nhưng trong thực tế, còn phải tính đến các yếu tố chính trị và an ninh

  • Có giải thích rằng “thâm hụt thương mại là kết quả của việc đầu tư dựa vào vốn nước ngoài vì thiếu tiết kiệm trong nước”, nhưng nếu nhìn ngược lại thì cũng có thể thấy rằng chính vì kinh tế Mỹ mang lại suất sinh lời cao và tích cực thu hút đầu tư nước ngoài nên vốn ngoại đổ vào Mỹ, khiến nó trông như đang phát sinh thâm hụt thương mại

  • Bản thân thuyết cân bằng thương mại cũng không phải là một khái niệm quá có ý nghĩa. Ví dụ, trong giao thương giữa New Zealand và Mỹ, New Zealand xuất khẩu rượu vang còn Mỹ xuất khẩu vũ khí, và không có lý do gì giá trị đô la của hai bên nhất thiết phải khớp chính xác với nhau. Không có lý do gì phải ám ảnh với cân bằng trong thương mại song phương. Ngay cả ở tổng thể với mọi quốc gia, cũng không có căn cứ rõ ràng nào cho thấy nó nhất thiết phải khớp hoàn hảo

    • Cân bằng thương mại ở đây có nghĩa là một quốc gia đạt cân bằng khi cộng gộp kết quả giao thương với tất cả các nước. Nói cách khác, dù giữa Mỹ và New Zealand có mất cân bằng, nếu New Zealand bán đủ rượu vang cho toàn thế giới để mua được vũ khí, thì rốt cuộc vẫn là cân bằng thương mại. Mất cân bằng giữa hai nước cụ thể không phải là vấn đề

    • Nếu xét theo quy mô dân số, cũng cần lưu ý chênh lệch giữa Mỹ 340 triệu người và New Zealand 5 triệu người

  • Lý do Mỹ luôn thâm hụt thương mại, suy cho cùng, cũng giống như việc tôi giao dịch với tiệm cắt tóc hay cửa hàng tạp hóa và luôn ở trạng thái thâm hụt giao dịch với họ

  • Bài của Fed nhấn mạnh “khung khoảng cách tiết kiệm”, nhưng tôi tò mò hàng hóa nước ngoài giá rẻ thực sự ảnh hưởng thế nào đến tiết kiệm và đầu tư trong nước, và liệu hàng giá rẻ từ Trung Quốc có làm suy yếu đầu tư nội địa hay không. Ví dụ, điều đó dẫn tới việc Apple đầu tư hàng tỷ USD vào chuỗi cung ứng ở Trung Quốc. Trong cấu trúc như vậy, cũng khó hiểu vì sao EU lại không liên tục rơi vào thâm hụt thương mại như Mỹ

    • EU không có thâm hụt thương mại lớn như Mỹ vì mức thâm hụt tài khóa tương đối thấp hơn và vì euro không phải đồng tiền dự trữ toàn cầu như đô la. Cái gọi là “khoảng cách tiết kiệm” về thực chất gần với thâm hụt tài khóa được lấp bằng trái phiếu kho bạc Mỹ

    • Ngay trong EU cũng có những nước bị thâm hụt thương mại, nhưng nếu cộng lại toàn khối thì các nước thặng dư như Đức dễ dàng bù đắp cho thâm hụt của các nước như Tây Ban Nha. EU có nền kinh tế đa dạng, mức lương và tiêu dùng nhìn chung thấp hơn, nên có thể đó là lý do dẫn tới kết quả này

    • Nếu toàn bộ chi phí lao động Mỹ được phản ánh vào iPhone, sẽ chẳng còn ai mua nó nữa

    • Khi Mỹ nhập khẩu hàng tiêu dùng, nước đối tác sẽ nhận được đô la, và số đô la đó lại quay trở lại thành đầu tư vào Mỹ. Tiêu dùng của Mỹ là thứ kích hoạt đầu tư từ nước ngoài. Ngược lại, nếu người Mỹ tiêu dùng ít hơn và đầu tư nhiều hơn, thì họ sẽ sở hữu nhiều cổ phần trong nước mình hơn, nhưng đồng thời cũng sẽ tiêu dùng ít hơn. Vốn đầu tư từ nước ngoài cũng có thể sẽ không chảy vào Mỹ nữa

    • Giả thuyết 'Global Saving Glut' của Bernanke đáng để tham khảo ở điểm nó cho rằng đã có quá nhiều nhu cầu đối với tài sản tài chính của Mỹ, và đây là một trong những nguyên nhân chính dẫn tới khủng hoảng tài chính 2008

  • “Thâm hụt thương mại” là một khái niệm của thế kỷ 19, không đủ để giải thích hệ thống tài chính quốc tế hiện nay

  • Bài viết này được viết rất tốt, đặc biệt ví dụ về dầu mỏ khiến nó giống như một biện pháp thay thế nhập khẩu hiệu quả. Việc tỷ lệ tiêu dùng tăng trong thời kỳ COVID đi cùng với chi tiêu chính phủ cũng là một điểm thú vị. Tôi tò mò vì sao về dài hạn việc Mỹ tăng tiết kiệm trong nước lại quan trọng, chính sách nào là tốt nhất, và liệu áp thuế có giúp nâng tỷ lệ tiết kiệm hay không

    • Chính sách thực sự giúp nâng tỷ lệ tiết kiệm là môi trường giá trị tiền tệ ổn định hoặc giảm dần một cách bền vững. Nếu tiền tệ mang tính lạm phát, mọi người sẽ có xu hướng tiêu tiền nhanh hơn

    • (a) Việc tăng tiết kiệm cá nhân cho tuổi nghỉ hưu là điều hợp lý, nhưng không có quá nhiều lý do để nhất thiết biến việc tăng tỷ lệ tiết kiệm của cả quốc gia thành mục tiêu. Ngược lại, nhờ pháp quyền, cơ hội đầu tư và dòng người nhập cư, bản thân trạng thái thâm hụt thương mại không phải vấn đề lớn. (b) Về trực tiếp, giảm thâm hụt tài khóa sẽ hiệu quả hơn, còn chế độ tiết kiệm bắt buộc kiểu Singapore (CPF) cũng là một cách, nhưng người dân thường cảm nhận nó như một loại thuế