2 điểm bởi GN⁺ 2025-05-22 | 3 bình luận | Chia sẻ qua WhatsApp
  • Thâm hụt thương mại của Mỹ vừa là kết quả của việc xuất khẩu không theo kịp nhu cầu nhập khẩu, vừa là một mất cân đối kinh tế vĩ mô khi tiết kiệm trong nước không đủ tài trợ cho chi tiêu đầu tư
  • Trong tài khoản quốc gia của một nền kinh tế mở, chi tiêu đầu tư = tiết kiệm trong nước + tiết kiệm nước ngoài, và phần nhập khẩu vượt trội được bù đắp bằng mua ròng tài sản Mỹ từ vốn nước ngoài
  • Kể từ năm 2000, tiết kiệm của Mỹ liên tục thấp hơn chi tiêu đầu tư; trong khủng hoảng tài chính, khoảng cách này thu hẹp do chi tiêu đầu tư giảm mạnh, nhưng sau đại dịch, tỷ trọng tiết kiệm vẫn ở mức thấp
  • Các hiệp định thương mại tự do hay reshoring có thể thay đổi quy mô và cơ cấu xuất nhập khẩu, nhưng chênh lệch giữa nhập khẩu và xuất khẩu chỉ thay đổi khi khoảng cách giữa tiết kiệm và chi tiêu đầu tư thay đổi
  • Để giảm mạnh thâm hụt thương mại, cần tái điều chỉnh tiết kiệm trong nước và chi tiêu đầu tư; trong quá khứ, thâm hụt thường thu hẹp chủ yếu thông qua việc chi tiêu đầu tư giảm, rồi sau đó tiết kiệm tăng

Hai cách nhìn về thâm hụt thương mại

  • Lý do trực tiếp khiến Mỹ thâm hụt thương mại là doanh số xuất khẩu không theo kịp nhu cầu nhập khẩu
  • Lý do mang tính cấu trúc hơn là tiết kiệm trong nước liên tục thiếu hụt so với chi tiêu đầu tư, nên cần vốn nước ngoài để tài trợ cho chi tiêu đầu tư
  • Để giảm mất cân bằng thương mại, chỉ tăng xuất khẩu so với nhập khẩu là chưa đủ; khoảng cách giữa tiết kiệm và chi tiêu đầu tư cũng phải thu hẹp

Khoảng cách tiết kiệm nhìn từ tài khoản quốc gia

  • Trong nền kinh tế đóng, không có nhập khẩu và xuất khẩu; chi tiêu được chia thành tiêu dùng và chi tiêu đầu tư, còn thu nhập được phân bổ cho tiêu dùng và tiết kiệm
    • chi tiêu (tiêu dùng + chi tiêu đầu tư) = thu nhập (tiêu dùng + tiết kiệm)
    • Nếu loại tiêu dùng khỏi cả hai vế, chi tiêu đầu tư sẽ bằng tiết kiệm trong nước
  • Trong nền kinh tế mở, việc vay hoặc cho vay với nước ngoài là có thể, nên tiết kiệm trong nước và chi tiêu đầu tư có thể khác nhau
    • Mỹ khó có thể tài trợ toàn bộ chi tiêu đầu tư chỉ bằng tiết kiệm trong nước, nên vay từ phần còn lại của thế giới
    • chi tiêu đầu tư = tiết kiệm trong nước + tiết kiệm nước ngoài (dòng vốn tài chính ròng chảy vào)
  • Quy mô vay tương tự cũng thể hiện ở khía cạnh thương mại
    • Nếu nhập khẩu và xuất khẩu bằng nhau, doanh thu xuất khẩu sẽ khớp với chi tiêu nhập khẩu
    • Nếu doanh thu xuất khẩu không đủ trang trải nhập khẩu, vốn nước ngoài sẽ mua tài sản Mỹ thay vì hàng xuất khẩu của Mỹ để bù phần chênh lệch
    • nhập khẩu = xuất khẩu + bán ròng tài sản Mỹ (dòng vốn tài chính ròng chảy vào)
  • Dòng vốn tài chính chảy vào có thể thay thế lẫn nhau trong nền kinh tế
    • Ban đầu chúng có thể được dùng để mua trái phiếu Kho bạc Mỹ, nhưng lại tạo dư địa để các nguồn vốn khác được dùng cho xây dựng nhà ở hoặc đầu tư thiết bị nhà máy
    • Vì cũng có dòng vốn tài chính chảy ra để mua tài sản nước ngoài từ Mỹ, nên dòng vào ròng mới là quy mô vay của Mỹ
  • Quy mô vay của Mỹ phải giống nhau dù nhìn theo chênh lệch tiết kiệm - chi tiêu đầu tư hay chênh lệch xuất khẩu - nhập khẩu; trên số liệu thực tế có thể phát sinh sai lệch thống kê

Dữ liệu từ năm 2000 cho thấy xu hướng gì

  • Nếu xét tổng tiết kiệm và chi tiêu đầu tư của Mỹ từ năm 2000 theo tỷ trọng trong GDP danh nghĩa, tiết kiệm liên tục thấp hơn chi tiêu đầu tư
  • Từ năm 2000 đến 2007, khoảng cách này mở rộng
    • Tỷ trọng chi tiêu đầu tư trong GDP giảm rồi phục hồi
    • Tỷ trọng tiết kiệm không phục hồi hoàn toàn
  • Trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, chi tiêu đầu tư giảm nhiều hơn tiết kiệm, khiến khoảng cách thu hẹp
    • Sau đó, tiết kiệm phục hồi mạnh hơn, làm khoảng cách tiếp tục thu hẹp
  • Gần đây, tiết kiệm giảm trong giai đoạn đại dịch và vẫn tiếp tục ở mức thấp sau đó
    • Tỷ trọng chi tiêu đầu tư trong GDP nhìn chung ổn định trong toàn bộ giai đoạn
  • Khoảng cách tiết kiệm khác với cán cân vãng lai do sai lệch thống kê

Sự bù trừ giữa tiết kiệm của hộ gia đình, doanh nghiệp và chính phủ

  • Tiết kiệm là chênh lệch giữa thu nhập và chi tiêu; trong đó chi tiêu không bao gồm chi tiêu đầu tư
  • Tiết kiệm của doanh nghiệp là ổn định nhất trong ba khu vực
    • Giảm trong khủng hoảng tài chính rồi bật lại vượt mức trước khủng hoảng
    • Sau đó duy trì quanh mức đó
  • Tỷ trọng tiết kiệm của hộ gia đình trong GDP được duy trì khá tốt trong khủng hoảng tài chính, và cho đến trước đại dịch vẫn cao hơn mức trước khủng hoảng
  • Trong đại dịch, tiết kiệm của hộ gia đình tăng vọt do các khoản chuyển giao của chính phủ và hạn chế chi tiêu tiêu dùng
    • Sau đó, một phần do người tiêu dùng tiêu bớt lượng tiết kiệm cao bất thường tích lũy trong giai đoạn 2020–21, mức này vẫn thấp hơn trước đại dịch
  • Tổng tiết kiệm ổn định hơn từng thành phần riêng lẻ
    • Đặc biệt là vì tiết kiệm của hộ gia đìnhtiết kiệm của chính phủ có xu hướng bù trừ lẫn nhau

Chính sách thương mại có thể và không thể thay đổi điều gì

  • Nhìn từ góc độ khoảng cách tiết kiệm, chỉ dựa vào chính sách thương mại để giảm thâm hụt thương mại là có giới hạn
  • Các hiệp định thương mại tự do có thể thúc đẩy xuất khẩu, còn chính sách công nghiệp có thể hỗ trợ reshoring hoạt động sản xuất thay thế nhập khẩu
  • Những chính sách này thay đổi quy mô và cơ cấu thương mại xuyên biên giới, nhưng chênh lệch giữa nhập khẩu và xuất khẩu chỉ bị ảnh hưởng khi khoảng cách giữa tiết kiệm trong nước và chi tiêu đầu tư cũng thay đổi
  • Trường hợp dầu mỏ cho thấy vì sao cách diễn giải tập trung vào một mặt hàng cụ thể có thể gây hiểu lầm
    • Năm 2011, thâm hụt thương mại sản phẩm dầu mỏ của Mỹ là 330 tỷ USD
    • Cùng năm, tổng thâm hụt thương mại đo bằng cán cân vãng lai là 455 tỷ USD, và dầu mỏ chiếm khoảng 75% tổng thâm hụt
    • Khi sản lượng dầu trong nước tăng mạnh, thâm hụt dầu mỏ biến mất vào năm 2019
    • Tuy vậy, tổng thâm hụt lại tăng lên 441 tỷ USD, phù hợp với khoảng cách tiết kiệm đã mở rộng hơn

Những đánh giá trái chiều quanh thâm hụt thương mại

  • Lập luận phản đối thâm hụt thương mại nằm ở chỗ tài sản Mỹ được bán cho nhà đầu tư nước ngoài thay vì nhà đầu tư trong nước, và thu nhập phát sinh từ các tài sản đó chảy ra nước ngoài
  • Từ góc nhìn khoảng cách tiết kiệm, có thể nhìn vai trò của vay nợ theo cách khác
    • Nếu Mỹ không thể vay từ phần còn lại của thế giới, chi tiêu đầu tư hẳn đã thấp hơn
    • Có thể xem nguồn tài trợ này là đã nâng cao năng lực sản xuất của nền kinh tế
  • Mục tiêu giảm thâm hụt thương mại nhiều khả năng sẽ gây đau đớn
    • Vì cần tái điều chỉnh tiết kiệm trong nước và chi tiêu đầu tư
  • Theo một nghiên cứu, việc thu hẹp mạnh thâm hụt thương mại thường diễn ra thông qua sự giảm chi tiêu đầu tư ban đầu, rồi sau đó tiết kiệm tăng
  • Quá trình cán cân vãng lai của Mỹ cải thiện trong cuộc suy thoái năm 2008 và các hệ quả sau đó cũng thuộc dạng chi tiêu đầu tư giảm rồi tiết kiệm tăng

3 bình luận

 
manssutt 2025-05-23

Viết dài dòng một điều rất đơn giản.. Mỹ muốn đồng USD trở thành đồng tiền dự trữ của thế giới, mà để làm được vậy thì thay vì bán nhiều hàng để USD tích lại ở Mỹ, họ phải mua nhiều hàng để USD lan ra khắp thị trường toàn cầu.

 
det7eng 2025-05-27

Tôi nghĩ đặc sản lớn nhất của Mỹ là đồng đô la

 
GN⁺ 2025-05-22
Các ý kiến trên Hacker News
  • Nếu dùng đồng tiền quốc gia làm đồng tiền dự trữ thế giới trên thực tế, thâm hụt thương mại của quốc gia đó gần như được đảm bảo
    Các nước khác không thể tạo ra USD, nên họ phải điều chỉnh nền kinh tế để cung cấp hàng hóa và dịch vụ mà Mỹ muốn nhằm kiếm đô la. Sau đó họ dùng số đô la đó để giao dịch với các nước khác, và Mỹ cũng yêu cầu họ làm như vậy
    Với Mỹ, đây là một sự đánh đổi: nhận được ảnh hưởng chính trị khổng lồ và thông tin thị trường, tức lợi thế rằng các giao dịch bằng USD đều đi qua các tổ chức của Mỹ bất kể đối tác giao dịch ở đâu, đổi lại phải chấp nhận sự rỗng ruột của công nghiệp trong nước và thâm hụt thương mại hàng hóa vật chất
    Giải pháp là một tài sản dự trữ toàn cầu phi quốc gia được tính bằng một rổ tiền tệ của nhiều quốc gia; Keynes đã chủ trương điều này tại Bretton Woods, nhưng Mỹ khi đó cũng như bây giờ đều không muốn

    • Mỹ không chỉ có được ảnh hưởng chính trị, mà còn nhận được lượng sản phẩm và dịch vụ khổng lồ giúp cư dân Mỹ sống sung túc hơn mức thu nhập của họ
      Ví dụ, Trung Quốc gửi sang Mỹ đồ điện tử và đủ loại hàng tiêu dùng được làm ra bằng các ca lao động 12 giờ, 6 ngày mỗi tuần, để đổi lấy những con số tưởng tượng
      Mỹ không phải là nạn nhân. Nếu hệ thống này dừng lại, Mỹ sẽ phải sống đúng với khả năng thực tế của mình, và khi đó có nguy cơ không còn đủ năng lực để tự khởi động lại sản xuất
      Đó là một tương lai đáng lo, nhưng không phải cấu trúc trong đó Mỹ bị bóc lột. Nó giống hơn với tình huống bán startup khi còn trẻ, dùng tiền đó sống xa hoa, rồi không làm việc cũng không học hành, để rồi đến tuổi 50 đối mặt nguy cơ trắng tay và thất nghiệp
    • Adam Smith cũng đã xem bản thân thâm hụt thương mại không phải là vấn đề quá thú vị, nên tôi không hiểu vì sao Mỹ lại ám ảnh đến vậy
      Thâm hụt thương mại Mỹ-EU thường được nhắc đến cũng không lớn đến thế nếu tính cả dịch vụ. Ở thế kỷ 21 thì đương nhiên phải tính cả dịch vụ. Một phần lớn nền kinh tế Mỹ tập trung vào các dịch vụ số giá trị gia tăng cao, và đang được “xuất khẩu” ra toàn thế giới
    • Khi đọc những đoạn kiểu “giao dịch với nước khác bằng số đô la đó”, có vẻ người viết không biết về eurodollar[1], hoặc không biết rằng bên hưởng lợi từ việc phổ biến USD thành đồng tiền dự trữ là London và EU thời đó
      Mỹ không cần phải ép buộc điều gì. Như đoạn trước đã nói, đó là hệ quả phụ phát sinh tự nhiên từ việc Mỹ là một nền kinh tế lớn mà ai cũng muốn hoặc cần giao dịch
      Eurodollar nhìn chung là một chuyện đau đầu đối với Mỹ, và khiến Mỹ mất một phần quyền kiểm soát đồng tiền của mình. Trong thời kỳ suy thoái, nó từng giúp ích bằng cách làm dịu một số tác động, nhưng cũng tạo ra vấn đề lạm phát mà Fed không thể kiểm soát
      Mỹ, giống như gần như mọi quốc gia phát hành tiền tệ của riêng mình, có lẽ sẽ thích quyền kiểm soát hơn là những lợi ích mơ hồ chưa được giải thích hay định lượng rõ ràng
      1 - https://en.wikipedia.org/wiki/Eurodollar
    • Có đúng là mọi giao dịch USD đều đi qua các tổ chức của Mỹ, bất kể vị trí của các bên giao dịch không?
      Theo tôi biết, thị trường eurodollar vốn đặt tại London xử lý USD mà không chịu sự giám sát của Bộ Tài chính Mỹ. Hong Kong có vẻ cũng sẽ sớm như vậy
    • Cách nói “cái giá của sự rỗng ruột công nghiệp trong nước” có vẻ không rõ ràng. Thương mại diễn ra vì có lợi cho cả hai bên
      Kịch bản phản thực tế khi giảm thương mại không phải là vẫn sản xuất cùng lượng hàng hóa đó trong nước và vẫn giàu có như cũ
      Trái lại, nó nghiêng về việc trở nên nghèo hơn, một số hàng hóa biến mất, và vì trên thực tế không thể sản xuất mọi thứ trong nước nên mọi người phải học cách sống với ít hơn
  • Có vẻ tác giả lướt qua việc nền kinh tế không phải là trò chơi tổng bằng không
    Lấy ví dụ phù hợp với HN: Mỹ tạo ra một số lượng startup khổng lồ. Quốc gia tạo ra các doanh nghiệp mới sẽ nhận đầu tư nước ngoài, và trên sổ sách điều đó dẫn đến thâm hụt thương mại
    Về bản chất, Mỹ xuất khẩu doanh nghiệp ra toàn thế giới, nhưng mô hình cán cân thương mại hàng hóa kiểu thế kỷ 19 không ghi nhận điều đó. Tuy nhiên xét về biên lợi nhuận, đây có thể là loại xuất khẩu tốt hơn hàng hóa đã bị hàng hóa hóa
    Nhìn tổng thể, những biểu đồ như thế này thay đổi rất nhiều tùy vào việc đặt ranh giới địa lý ở đâu, và định nghĩa hàng hóa, dịch vụ, đầu tư như thế nào. Nếu hệ thống thực sự mất cân bằng, Mỹ hẳn đã cạn tiền mặt và phải phát hành ồ ạt đô la để trả nợ nước ngoài, nhưng điều đó không xảy ra

    • Người đương nhiệm hiện tại ở White House dường như tin vào hai điều
      1. Mọi trò chơi đều là trò chơi tổng bằng không
      2. Ông ta có quyền sa thải hoặc về thực chất là phá hỏng bất kỳ cơ quan nào mà không bị ràng buộc pháp lý
        Xét đến 2), cũng dễ hiểu vì sao người ta viết như thể 1) là nguyên tắc chính sách thực tế
    • Đầu tư vốn là khả năng dòng tiền âm trong tương lai. Nó không thay thế cho xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ
      Nếu khoản đầu tư đó không phải lừa đảo, nhà đầu tư sẽ kỳ vọng lợi nhuận tương lai và thu hồi vốn gốc. Dòng vốn luân chuyển là tốt khi ở trạng thái cân bằng, nhưng hiện nay không phải vậy: https://en.wikipedia.org/wiki/Net_international_investment_p...
      Vị thế đầu tư quốc tế ròng của Mỹ là âm 27 nghìn tỷ USD. Đây là kết quả của thâm hụt thương mại, vì thâm hụt chủ yếu được tài trợ bằng khoản tiền này
    • Nhìn ở cấp độ quốc gia, xuất khẩu quyền sở hữu doanh nghiệp chỉ là một dạng nợ khác. Đó là giao dịch nhận hàng hóa bây giờ để đổi lấy sản lượng trong tương lai
      Vấn đề căn bản là dòng chảy hàng hóa ngày nay đang nghiêng về phía chảy vào Mỹ. Để một ngày nào đó trả nợ và lợi nhuận, dòng chảy này phải đảo ngược
      Nhưng việc Mỹ gửi hàng hóa tương đương 5~10% GDP ra nước ngoài có lẽ là điều bất khả thi về mặt chính trị. Đó mới là vấn đề cốt lõi
    • Trước đó có một phản hồi nói “đó không phải thâm hụt thương mại”, nhưng nếu xây dựng phiên bản mạnh hơn của lập luận gốc thì là thế này: đầu tư nước ngoài vào các công ty Mỹ làm giảm thâm hụt thương mại của Mỹ nhưng không được ghi nhận trong cách tính truyền thống
      Tôi nghe nói đầu tư bất động sản ở nước ngoài thường được triệt tiêu trong tính toán vì hai nước sở hữu bất động sản của nhau ở mức tương tự. Tôi tò mò liệu trường hợp đầu tư doanh nghiệp có giống vậy không
    • Ngân hàng trung ương các nước khác cố gắng đa dạng hóa sang các đồng tiền khác để phòng vệ trước siêu lạm phát
      Đô la là một trong những đồng tiền khá ổn định, nên mọi người khá hài lòng khi mua trái phiếu Kho bạc Mỹ, nhưng khi làm vậy thì sẽ tích tụ những đồng tiền như Kronor mà chính phủ Mỹ không biết phải dùng thế nào
      Vì vậy, để đưa chúng trở lại nơi đáng lẽ phải chảy đến mà không phá hỏng tỷ giá, họ sẽ mua những thứ như dầu mỏ, cá, thép
  • New York Fed có vẻ như đã viết bài này với mong muốn người Mỹ trở nên yêu nước hơn, tiết kiệm nhiều hơn và mua ít đồ nhập khẩu linh tinh giá rẻ hơn. Nhưng bài viết lướt qua vài điểm cốt lõi

    1. Tiêu dùng không được bù trừ. Vì tiêu dùng nội địa của Mỹ chủ yếu được chi ở Trung Quốc chứ không phải ở Mỹ. Thứ góp phần vào thâm hụt thương mại không phải là thiếu tiết kiệm, mà là cấu trúc này
    2. Lạm phát giá tài sản đóng góp cực lớn vào cung tiền. Nó nằm ở đâu trong phương trình này? Không phải tiết kiệm, không phải đầu tư, cũng không phải tiêu dùng; đó là lượng tiền khổng lồ được tạo ra từ hư không. Nguồn gốc thực sự của việc tạo ra của cải và tăng cung tiền không phải bán trái phiếu hay nới lỏng định lượng, mà là lạm phát giá tài sản
    3. Tiết kiệm trong nước hoàn toàn không đồng nghĩa với đầu tư sản xuất trong nền kinh tế Mỹ. Nếu nhét tiền dưới nệm thì có được xem là một bất cân đối kế toán không? Các công ty tích trữ tiền mặt như rồng giữ kho báu. Ở Mỹ có khoản đầu tư nào? Bạn có thấy nhiều thiết bị mới hay nhà máy mới không? “Đầu tư” ở đây là thổi phồng giá tài sản Mỹ, và định nghĩa của từ “đầu tư” đã bị kéo giãn đến giới hạn
    4. Vai trò thật sự của Federal Reserve là ổn định và nâng giá tài sản. Nếu kích thích giá tài sản tăng, tiền có thể được tạo ra rất dễ dàng
    5. Vốn nước ngoài không tài trợ cho đầu tư kinh doanh ở Mỹ. Gọi là “đầu tư” là cách nói quá đẹp. Thực tế là vốn nước ngoài đang vét sạch bất động sản và các tài sản hữu hình khác của Mỹ. Việc nước ngoài sở hữu tài sản, doanh nghiệp và bất động sản Mỹ chính là thứ được gọi là đầu tư ở đây, và tôi cho rằng nó mang nghĩa thu hẹp chứ không phải tăng trưởng. Tôi nghĩ tài sản do nước ngoài sở hữu có xu hướng giảm giá trị
    • Nói tiết kiệm trong nước hoàn toàn không đồng nghĩa với đầu tư sản xuất là hoàn toàn vô lý
      Dù ngân hàng có lược bỏ nhiều chi tiết quan trọng về việc tạo tiền và tạo khoản vay, họ vẫn dùng tiền trong tài khoản để tạo khoản vay, và phần lớn các khoản vay đó được dùng cho đầu tư doanh nghiệp và bất động sản
      “Thổi phồng giá tài sản Mỹ” có lẽ là nói đến việc mua cổ phiếu, nhưng việc đó cũng dẫn tới đầu tư của công ty đã bán cổ phiếu
      Các công ty tích trữ tiền mặt cũng không thực sự cất các chồng đô la giấy ở đâu đó. Ví dụ, phần lớn trong hàng chục tỷ USD “tiền mặt nắm giữ” của Apple thực ra là trái phiếu và các tài sản thanh khoản khác; đó là đầu tư, không phải một kho chứa vô dụng. Tài sản thuần tiền mặt chủ yếu được giữ vì mục đích vận hành
      Vốn nước ngoài mua bất động sản và tài sản hữu hình của Mỹ, theo đúng nghĩa đen, là đầu tư. Bạn nghĩ số tiền đó đi đâu? Nó đến tay những người đã tạo ra các tòa nhà và tài sản đó. Họ không đem tiền đi đốt, mà tạo thêm nhiều tòa nhà và tài sản để bán cho nhà đầu tư nước ngoài. Và các tài sản đó vẫn là tài sản sản xuất nằm trong nước Mỹ, chỉ là đổi chủ sở hữu
    • Điểm thứ hai rất quan trọng. Tiền được tạo ra bằng nợ, và lạm phát giá tài sản là một trong những cơ chế chính để đạt được điều đó
      Cũng có các cơ chế khác như lạm phát giá trị thị trường. Ví dụ, một công ty nhận được kỳ vọng quá nóng như OpenAI có thể huy động tiền bằng nợ, và số tiền đó được các ngân hàng tư nhân tạo ra từ hư không
  • Có câu “thâm hụt phát sinh vì tiết kiệm trong nước liên tục không đủ, đến mức cần vốn nước ngoài để tài trợ cho chi tiêu đầu tư trong nước”; tại sao không nhìn theo cách này?
    Thâm hụt phát sinh vì vốn nước ngoài liên tục dư thừa đến mức đủ để tài trợ cho đầu tư trong nước. Có thể là vì nền kinh tế tạo ra suất sinh lợi cao và chào đón đầu tư nước ngoài

  • Câu “mục tiêu đạt được thâm hụt thương mại nhỏ hơn nhiều khả năng sẽ gây đau đớn” là đúng, nhưng đây là kiểu kinh tế học trong bình kín
    Chiến tranh thế giới cũng “nhiều khả năng gây đau đớn”, và trong tình huống đó cần nhà máy trong nước và đồng tiền mất giá để tăng cơ hội chiến thắng
    Nếu là một thế giới chân không hoàn toàn hòa bình, khổng lồ và ổn định, thì việc có vị thế đồng tiền dự trữ toàn cầu, duy trì thâm hụt thương mại và “nâng cao năng lực sản xuất của nền kinh tế” sẽ tốt hơn nhiều so với các lựa chọn thay thế, nhưng thực tế không đơn giản như vậy
    Nhập khẩu cái gì và từ ai? Tầng lớp lao động thất nghiệp có ôn hòa về chính trị không, hay bạo lực? Năng lực sản xuất có thể làm ra tàu chiến và tên lửa không? Doanh thu quảng cáo rất tuyệt, nhưng nó có thể đánh chặn ICBM không?
    Nếu mọi hàng hóa đều là widget và chỉ bàn kinh tế mà không có chính trị, thì điều đó hoàn toàn đúng. Nhưng thực tế không phải vậy

  • Tôi tò mò liệu có nghiên cứu nào về mối quan hệ giữa khả năng tiếp cận hàng hóa nước ngoài giá rẻ và tiết kiệm·đầu tư trong nước không
    Ví dụ, nếu có thể kiếm lợi nhuận từ hàng sản xuất trong nước thì người ta có đầu tư trong nước nhiều hơn không? Có thể xem sự tồn tại của hàng Trung Quốc giá rẻ là yếu tố kìm hãm đầu tư trong nước không? Giống như Apple đã đầu tư hàng chục tỷ USD vào chuỗi cung ứng Trung Quốc
    Tôi cũng tò mò vì sao EU không liên tục thâm hụt thương mại

    • EU không liên tục thâm hụt vì nếu so sánh thì EU không có thâm hụt tài khóa khổng lồ như vậy, và EUR cũng không phải đồng tiền dự trữ chính
      Thứ mà bài của Fed gọi là “khoảng cách tiết kiệm” thực ra gần với khoảng cách tài khóa đã được lấp bằng trái phiếu Kho bạc Mỹ hơn
    • Một số nước EU có lẽ có thâm hụt thương mại. Chỉ là quy mô kinh tế nhỏ hơn nên trông có vẻ ít quan trọng hơn
      Nếu gộp nền kinh tế EU lại, thâm hụt của Tây Ban Nha có thể khá dễ bị che lấp trong thặng dư của Đức. Ví dụ, tôi nhớ thặng dư của Đức từng vào khoảng gấp 10 lần thâm hụt của Tây Ban Nha
      Xét toàn EU thì tôi không rõ, nhưng có thể là do cơ cấu kinh tế rất đa dạng, tổng mức tiêu dùng thấp và lương ở EU thấp
    • Nếu iPhone được định giá theo chi phí lao động của Mỹ thì sẽ chẳng ai mua
    • https://www.federalreserve.gov/boarddocs/speeches/2005/20050...
      Giả thuyết dư thừa tiết kiệm toàn cầu của Ben Bernanke là một luận điểm thú vị rằng nhu cầu quá mức đối với tài sản tài chính Mỹ có thể là một yếu tố chính tạo ra bong bóng nhà ở năm 2008
    • Trong đẳng thức kế toán, “tiết kiệm” chỉ là tiền không dùng để tiêu dùng. Hàng nhập khẩu rẻ hơn khiến bạn chi ít hơn cho cùng một món hàng, nên có thể làm tăng tiết kiệm trong nước. Khi đó đầu tư trong nước có thể tăng vì tiết kiệm tăng
      Ngược lại, nếu hàng nhập khẩu rẻ đến mức người ta tiêu dùng nhiều hơn, cùng một tình huống đó cũng có thể làm giảm tiết kiệm
      Đẳng thức kế toán rốt cuộc không giải thích gì ngoài sự thật toán học rằng tổng tiền phải khớp. Tiết kiệm không tự thân là tốt, và thâm hụt cũng không tự thân là xấu
  • Câu trả lời rất đơn giản. Thâm hụt thương mại là một khái niệm từ thế kỷ 19 nên không thể thể hiện đầy đủ cách hệ thống tài chính quốc tế hiện đại vận hành

  • Bản thân ý tưởng về cân bằng thương mại hoàn toàn vô lý
    Lấy New Zealand làm ví dụ: năm ngoái, mặt hàng nhập khẩu chính từ New Zealand vào Mỹ là rượu vang
    Mặt hàng xuất khẩu chính từ Mỹ sang New Zealand là thiết bị quân sự
    Nhưng tại sao giá trị đô la của rượu vang mua từ một người nào đó lại phải bằng giá trị đô la của thiết bị quân sự bán cho người đó?
    Không có lý do gì thương mại giữa hai nước phải cân bằng. Vì vậy, việc cho rằng tổng thương mại với tất cả các nước cũng phải cân bằng, hoặc cân bằng như vậy sẽ tốt hơn, cũng không hợp lý

    • Vấn đề lớn hơn chẳng phải là dân số Mỹ là 340 triệu người còn dân số New Zealand là 5 triệu người sao?
    • Bạn hiểu nhầm rồi. Thương mại cân bằng nói về tổng cộng của tất cả các quốc gia, chứ không nhất thiết là cân bằng giữa hai nước
      Giữa New Zealand và Mỹ có thể có mất cân bằng thương mại, nhưng bất kỳ nước nào vẫn có thể không có thâm hụt thương mại tổng thể
      Ý chính là nếu New Zealand bán rượu vang và mua máy bay chiến đấu, thì để toàn bộ thương mại cân bằng, họ phải bán đủ rượu vang cho phần còn lại của thế giới để trả tiền máy bay chiến đấu. Dù có mất cân bằng trong giao thương với Mỹ, nếu tổng thể cân bằng thì không vấn đề gì
  • Lý do Mỹ bị thâm hụt thương mại cũng giống lý do tôi bị thâm hụt thương mại với thợ cắt tóc và cửa hàng tạp hóa

  • Bài viết thật sự rất hay
    Ví dụ về dầu mỏ là một trường hợp thuyết phục về thay thế nhập khẩu, còn ví dụ COVID cho thấy một cách thú vị rằng tỷ lệ tiết kiệm tăng chỉ thể hiện như phần bù trừ cho chi tiêu của chính phủ
    Tôi muốn xem tiếp (a) liệu việc Mỹ tăng tiết kiệm trong nước có quan trọng không, (b) nếu có thì chính sách nào là tốt nhất và vì sao
    Tôi hình dung thuế quan toàn diện thực sự có thể làm tăng tỷ lệ tiết kiệm, vì nó làm tăng chi phí của hàng nhập khẩu nói chung. Điều này có thể đặc biệt đúng khi hàng thay thế trong nước kém hơn hoặc đắt hơn. Tuy nhiên, tôi vẫn thắc mắc liệu đó có phải là cách tốt nhất để đạt mục tiêu tiết kiệm hay không

    • Chính sách duy nhất có thể nâng tỷ lệ tiết kiệm là một đồng tiền ổn định hoặc mất giá. Người ta được khuyến khích tiêu đồng tiền lạm phát để giữ giá trị
    • (a) Có lập luận rằng mọi người nên tiết kiệm nhiều hơn cho hưu trí, nhưng ngoài điều đó ra tôi chưa từng nghe lý do nào giải thích vì sao tổng tiết kiệm trong nước phải tăng
      Ngược lại, Mỹ tự nhiên ở vị thế khá tốt để chạy thâm hụt. Có pháp quyền tốt, cơ hội đầu tư, và thu nhập tương lai của người nhập cư
      (b) Cách nhắm vào thâm hụt ngân sách thường hoạt động tốt. Đặc biệt hiện nay thâm hụt đang rất lớn. Tiết kiệm bắt buộc kiểu CPF của Singapore cũng khá hiệu quả, nhưng có lẽ chỉ người Singapore mới không xem nó là thuế