Vì sao Mỹ luôn thâm hụt thương mại?
(libertystreeteconomics.newyorkfed.org)- Thâm hụt thương mại của Mỹ vừa là kết quả của việc xuất khẩu không theo kịp nhu cầu nhập khẩu, vừa là một mất cân đối kinh tế vĩ mô khi tiết kiệm trong nước không đủ tài trợ cho chi tiêu đầu tư
- Trong tài khoản quốc gia của một nền kinh tế mở,
chi tiêu đầu tư = tiết kiệm trong nước + tiết kiệm nước ngoài, và phần nhập khẩu vượt trội được bù đắp bằng mua ròng tài sản Mỹ từ vốn nước ngoài - Kể từ năm 2000, tiết kiệm của Mỹ liên tục thấp hơn chi tiêu đầu tư; trong khủng hoảng tài chính, khoảng cách này thu hẹp do chi tiêu đầu tư giảm mạnh, nhưng sau đại dịch, tỷ trọng tiết kiệm vẫn ở mức thấp
- Các hiệp định thương mại tự do hay reshoring có thể thay đổi quy mô và cơ cấu xuất nhập khẩu, nhưng chênh lệch giữa nhập khẩu và xuất khẩu chỉ thay đổi khi khoảng cách giữa tiết kiệm và chi tiêu đầu tư thay đổi
- Để giảm mạnh thâm hụt thương mại, cần tái điều chỉnh tiết kiệm trong nước và chi tiêu đầu tư; trong quá khứ, thâm hụt thường thu hẹp chủ yếu thông qua việc chi tiêu đầu tư giảm, rồi sau đó tiết kiệm tăng
Hai cách nhìn về thâm hụt thương mại
- Lý do trực tiếp khiến Mỹ thâm hụt thương mại là doanh số xuất khẩu không theo kịp nhu cầu nhập khẩu
- Lý do mang tính cấu trúc hơn là tiết kiệm trong nước liên tục thiếu hụt so với chi tiêu đầu tư, nên cần vốn nước ngoài để tài trợ cho chi tiêu đầu tư
- Để giảm mất cân bằng thương mại, chỉ tăng xuất khẩu so với nhập khẩu là chưa đủ; khoảng cách giữa tiết kiệm và chi tiêu đầu tư cũng phải thu hẹp
Khoảng cách tiết kiệm nhìn từ tài khoản quốc gia
- Trong nền kinh tế đóng, không có nhập khẩu và xuất khẩu; chi tiêu được chia thành tiêu dùng và chi tiêu đầu tư, còn thu nhập được phân bổ cho tiêu dùng và tiết kiệm
chi tiêu (tiêu dùng + chi tiêu đầu tư) = thu nhập (tiêu dùng + tiết kiệm)- Nếu loại tiêu dùng khỏi cả hai vế, chi tiêu đầu tư sẽ bằng tiết kiệm trong nước
- Trong nền kinh tế mở, việc vay hoặc cho vay với nước ngoài là có thể, nên tiết kiệm trong nước và chi tiêu đầu tư có thể khác nhau
- Mỹ khó có thể tài trợ toàn bộ chi tiêu đầu tư chỉ bằng tiết kiệm trong nước, nên vay từ phần còn lại của thế giới
chi tiêu đầu tư = tiết kiệm trong nước + tiết kiệm nước ngoài (dòng vốn tài chính ròng chảy vào)
- Quy mô vay tương tự cũng thể hiện ở khía cạnh thương mại
- Nếu nhập khẩu và xuất khẩu bằng nhau, doanh thu xuất khẩu sẽ khớp với chi tiêu nhập khẩu
- Nếu doanh thu xuất khẩu không đủ trang trải nhập khẩu, vốn nước ngoài sẽ mua tài sản Mỹ thay vì hàng xuất khẩu của Mỹ để bù phần chênh lệch
nhập khẩu = xuất khẩu + bán ròng tài sản Mỹ (dòng vốn tài chính ròng chảy vào)
- Dòng vốn tài chính chảy vào có thể thay thế lẫn nhau trong nền kinh tế
- Ban đầu chúng có thể được dùng để mua trái phiếu Kho bạc Mỹ, nhưng lại tạo dư địa để các nguồn vốn khác được dùng cho xây dựng nhà ở hoặc đầu tư thiết bị nhà máy
- Vì cũng có dòng vốn tài chính chảy ra để mua tài sản nước ngoài từ Mỹ, nên dòng vào ròng mới là quy mô vay của Mỹ
- Quy mô vay của Mỹ phải giống nhau dù nhìn theo chênh lệch tiết kiệm - chi tiêu đầu tư hay chênh lệch xuất khẩu - nhập khẩu; trên số liệu thực tế có thể phát sinh sai lệch thống kê
Dữ liệu từ năm 2000 cho thấy xu hướng gì
- Nếu xét tổng tiết kiệm và chi tiêu đầu tư của Mỹ từ năm 2000 theo tỷ trọng trong GDP danh nghĩa, tiết kiệm liên tục thấp hơn chi tiêu đầu tư
- Từ năm 2000 đến 2007, khoảng cách này mở rộng
- Tỷ trọng chi tiêu đầu tư trong GDP giảm rồi phục hồi
- Tỷ trọng tiết kiệm không phục hồi hoàn toàn
- Trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, chi tiêu đầu tư giảm nhiều hơn tiết kiệm, khiến khoảng cách thu hẹp
- Sau đó, tiết kiệm phục hồi mạnh hơn, làm khoảng cách tiếp tục thu hẹp
- Gần đây, tiết kiệm giảm trong giai đoạn đại dịch và vẫn tiếp tục ở mức thấp sau đó
- Tỷ trọng chi tiêu đầu tư trong GDP nhìn chung ổn định trong toàn bộ giai đoạn
- Khoảng cách tiết kiệm khác với cán cân vãng lai do sai lệch thống kê
Sự bù trừ giữa tiết kiệm của hộ gia đình, doanh nghiệp và chính phủ
- Tiết kiệm là chênh lệch giữa thu nhập và chi tiêu; trong đó chi tiêu không bao gồm chi tiêu đầu tư
- Tiết kiệm của doanh nghiệp là ổn định nhất trong ba khu vực
- Giảm trong khủng hoảng tài chính rồi bật lại vượt mức trước khủng hoảng
- Sau đó duy trì quanh mức đó
- Tỷ trọng tiết kiệm của hộ gia đình trong GDP được duy trì khá tốt trong khủng hoảng tài chính, và cho đến trước đại dịch vẫn cao hơn mức trước khủng hoảng
- Trong đại dịch, tiết kiệm của hộ gia đình tăng vọt do các khoản chuyển giao của chính phủ và hạn chế chi tiêu tiêu dùng
- Sau đó, một phần do người tiêu dùng tiêu bớt lượng tiết kiệm cao bất thường tích lũy trong giai đoạn 2020–21, mức này vẫn thấp hơn trước đại dịch
- Tổng tiết kiệm ổn định hơn từng thành phần riêng lẻ
- Đặc biệt là vì tiết kiệm của hộ gia đình và tiết kiệm của chính phủ có xu hướng bù trừ lẫn nhau
Chính sách thương mại có thể và không thể thay đổi điều gì
- Nhìn từ góc độ khoảng cách tiết kiệm, chỉ dựa vào chính sách thương mại để giảm thâm hụt thương mại là có giới hạn
- Các hiệp định thương mại tự do có thể thúc đẩy xuất khẩu, còn chính sách công nghiệp có thể hỗ trợ reshoring hoạt động sản xuất thay thế nhập khẩu
- Những chính sách này thay đổi quy mô và cơ cấu thương mại xuyên biên giới, nhưng chênh lệch giữa nhập khẩu và xuất khẩu chỉ bị ảnh hưởng khi khoảng cách giữa tiết kiệm trong nước và chi tiêu đầu tư cũng thay đổi
- Trường hợp dầu mỏ cho thấy vì sao cách diễn giải tập trung vào một mặt hàng cụ thể có thể gây hiểu lầm
- Năm 2011, thâm hụt thương mại sản phẩm dầu mỏ của Mỹ là 330 tỷ USD
- Cùng năm, tổng thâm hụt thương mại đo bằng cán cân vãng lai là 455 tỷ USD, và dầu mỏ chiếm khoảng 75% tổng thâm hụt
- Khi sản lượng dầu trong nước tăng mạnh, thâm hụt dầu mỏ biến mất vào năm 2019
- Tuy vậy, tổng thâm hụt lại tăng lên 441 tỷ USD, phù hợp với khoảng cách tiết kiệm đã mở rộng hơn
Những đánh giá trái chiều quanh thâm hụt thương mại
- Lập luận phản đối thâm hụt thương mại nằm ở chỗ tài sản Mỹ được bán cho nhà đầu tư nước ngoài thay vì nhà đầu tư trong nước, và thu nhập phát sinh từ các tài sản đó chảy ra nước ngoài
- Từ góc nhìn khoảng cách tiết kiệm, có thể nhìn vai trò của vay nợ theo cách khác
- Nếu Mỹ không thể vay từ phần còn lại của thế giới, chi tiêu đầu tư hẳn đã thấp hơn
- Có thể xem nguồn tài trợ này là đã nâng cao năng lực sản xuất của nền kinh tế
- Mục tiêu giảm thâm hụt thương mại nhiều khả năng sẽ gây đau đớn
- Vì cần tái điều chỉnh tiết kiệm trong nước và chi tiêu đầu tư
- Theo một nghiên cứu, việc thu hẹp mạnh thâm hụt thương mại thường diễn ra thông qua sự giảm chi tiêu đầu tư ban đầu, rồi sau đó tiết kiệm tăng
- Quá trình cán cân vãng lai của Mỹ cải thiện trong cuộc suy thoái năm 2008 và các hệ quả sau đó cũng thuộc dạng chi tiêu đầu tư giảm rồi tiết kiệm tăng
3 bình luận
Viết dài dòng một điều rất đơn giản.. Mỹ muốn đồng USD trở thành đồng tiền dự trữ của thế giới, mà để làm được vậy thì thay vì bán nhiều hàng để USD tích lại ở Mỹ, họ phải mua nhiều hàng để USD lan ra khắp thị trường toàn cầu.
Tôi nghĩ đặc sản lớn nhất của Mỹ là đồng đô la
Các ý kiến trên Hacker News
Nếu dùng đồng tiền quốc gia làm đồng tiền dự trữ thế giới trên thực tế, thâm hụt thương mại của quốc gia đó gần như được đảm bảo
Các nước khác không thể tạo ra USD, nên họ phải điều chỉnh nền kinh tế để cung cấp hàng hóa và dịch vụ mà Mỹ muốn nhằm kiếm đô la. Sau đó họ dùng số đô la đó để giao dịch với các nước khác, và Mỹ cũng yêu cầu họ làm như vậy
Với Mỹ, đây là một sự đánh đổi: nhận được ảnh hưởng chính trị khổng lồ và thông tin thị trường, tức lợi thế rằng các giao dịch bằng USD đều đi qua các tổ chức của Mỹ bất kể đối tác giao dịch ở đâu, đổi lại phải chấp nhận sự rỗng ruột của công nghiệp trong nước và thâm hụt thương mại hàng hóa vật chất
Giải pháp là một tài sản dự trữ toàn cầu phi quốc gia được tính bằng một rổ tiền tệ của nhiều quốc gia; Keynes đã chủ trương điều này tại Bretton Woods, nhưng Mỹ khi đó cũng như bây giờ đều không muốn
Ví dụ, Trung Quốc gửi sang Mỹ đồ điện tử và đủ loại hàng tiêu dùng được làm ra bằng các ca lao động 12 giờ, 6 ngày mỗi tuần, để đổi lấy những con số tưởng tượng
Mỹ không phải là nạn nhân. Nếu hệ thống này dừng lại, Mỹ sẽ phải sống đúng với khả năng thực tế của mình, và khi đó có nguy cơ không còn đủ năng lực để tự khởi động lại sản xuất
Đó là một tương lai đáng lo, nhưng không phải cấu trúc trong đó Mỹ bị bóc lột. Nó giống hơn với tình huống bán startup khi còn trẻ, dùng tiền đó sống xa hoa, rồi không làm việc cũng không học hành, để rồi đến tuổi 50 đối mặt nguy cơ trắng tay và thất nghiệp
Thâm hụt thương mại Mỹ-EU thường được nhắc đến cũng không lớn đến thế nếu tính cả dịch vụ. Ở thế kỷ 21 thì đương nhiên phải tính cả dịch vụ. Một phần lớn nền kinh tế Mỹ tập trung vào các dịch vụ số giá trị gia tăng cao, và đang được “xuất khẩu” ra toàn thế giới
Mỹ không cần phải ép buộc điều gì. Như đoạn trước đã nói, đó là hệ quả phụ phát sinh tự nhiên từ việc Mỹ là một nền kinh tế lớn mà ai cũng muốn hoặc cần giao dịch
Eurodollar nhìn chung là một chuyện đau đầu đối với Mỹ, và khiến Mỹ mất một phần quyền kiểm soát đồng tiền của mình. Trong thời kỳ suy thoái, nó từng giúp ích bằng cách làm dịu một số tác động, nhưng cũng tạo ra vấn đề lạm phát mà Fed không thể kiểm soát
Mỹ, giống như gần như mọi quốc gia phát hành tiền tệ của riêng mình, có lẽ sẽ thích quyền kiểm soát hơn là những lợi ích mơ hồ chưa được giải thích hay định lượng rõ ràng
1 - https://en.wikipedia.org/wiki/Eurodollar
Theo tôi biết, thị trường eurodollar vốn đặt tại London xử lý USD mà không chịu sự giám sát của Bộ Tài chính Mỹ. Hong Kong có vẻ cũng sẽ sớm như vậy
Kịch bản phản thực tế khi giảm thương mại không phải là vẫn sản xuất cùng lượng hàng hóa đó trong nước và vẫn giàu có như cũ
Trái lại, nó nghiêng về việc trở nên nghèo hơn, một số hàng hóa biến mất, và vì trên thực tế không thể sản xuất mọi thứ trong nước nên mọi người phải học cách sống với ít hơn
Có vẻ tác giả lướt qua việc nền kinh tế không phải là trò chơi tổng bằng không
Lấy ví dụ phù hợp với HN: Mỹ tạo ra một số lượng startup khổng lồ. Quốc gia tạo ra các doanh nghiệp mới sẽ nhận đầu tư nước ngoài, và trên sổ sách điều đó dẫn đến thâm hụt thương mại
Về bản chất, Mỹ xuất khẩu doanh nghiệp ra toàn thế giới, nhưng mô hình cán cân thương mại hàng hóa kiểu thế kỷ 19 không ghi nhận điều đó. Tuy nhiên xét về biên lợi nhuận, đây có thể là loại xuất khẩu tốt hơn hàng hóa đã bị hàng hóa hóa
Nhìn tổng thể, những biểu đồ như thế này thay đổi rất nhiều tùy vào việc đặt ranh giới địa lý ở đâu, và định nghĩa hàng hóa, dịch vụ, đầu tư như thế nào. Nếu hệ thống thực sự mất cân bằng, Mỹ hẳn đã cạn tiền mặt và phải phát hành ồ ạt đô la để trả nợ nước ngoài, nhưng điều đó không xảy ra
Xét đến 2), cũng dễ hiểu vì sao người ta viết như thể 1) là nguyên tắc chính sách thực tế
Nếu khoản đầu tư đó không phải lừa đảo, nhà đầu tư sẽ kỳ vọng lợi nhuận tương lai và thu hồi vốn gốc. Dòng vốn luân chuyển là tốt khi ở trạng thái cân bằng, nhưng hiện nay không phải vậy: https://en.wikipedia.org/wiki/Net_international_investment_p...
Vị thế đầu tư quốc tế ròng của Mỹ là âm 27 nghìn tỷ USD. Đây là kết quả của thâm hụt thương mại, vì thâm hụt chủ yếu được tài trợ bằng khoản tiền này
Vấn đề căn bản là dòng chảy hàng hóa ngày nay đang nghiêng về phía chảy vào Mỹ. Để một ngày nào đó trả nợ và lợi nhuận, dòng chảy này phải đảo ngược
Nhưng việc Mỹ gửi hàng hóa tương đương 5~10% GDP ra nước ngoài có lẽ là điều bất khả thi về mặt chính trị. Đó mới là vấn đề cốt lõi
Tôi nghe nói đầu tư bất động sản ở nước ngoài thường được triệt tiêu trong tính toán vì hai nước sở hữu bất động sản của nhau ở mức tương tự. Tôi tò mò liệu trường hợp đầu tư doanh nghiệp có giống vậy không
Đô la là một trong những đồng tiền khá ổn định, nên mọi người khá hài lòng khi mua trái phiếu Kho bạc Mỹ, nhưng khi làm vậy thì sẽ tích tụ những đồng tiền như Kronor mà chính phủ Mỹ không biết phải dùng thế nào
Vì vậy, để đưa chúng trở lại nơi đáng lẽ phải chảy đến mà không phá hỏng tỷ giá, họ sẽ mua những thứ như dầu mỏ, cá, thép
New York Fed có vẻ như đã viết bài này với mong muốn người Mỹ trở nên yêu nước hơn, tiết kiệm nhiều hơn và mua ít đồ nhập khẩu linh tinh giá rẻ hơn. Nhưng bài viết lướt qua vài điểm cốt lõi
Dù ngân hàng có lược bỏ nhiều chi tiết quan trọng về việc tạo tiền và tạo khoản vay, họ vẫn dùng tiền trong tài khoản để tạo khoản vay, và phần lớn các khoản vay đó được dùng cho đầu tư doanh nghiệp và bất động sản
“Thổi phồng giá tài sản Mỹ” có lẽ là nói đến việc mua cổ phiếu, nhưng việc đó cũng dẫn tới đầu tư của công ty đã bán cổ phiếu
Các công ty tích trữ tiền mặt cũng không thực sự cất các chồng đô la giấy ở đâu đó. Ví dụ, phần lớn trong hàng chục tỷ USD “tiền mặt nắm giữ” của Apple thực ra là trái phiếu và các tài sản thanh khoản khác; đó là đầu tư, không phải một kho chứa vô dụng. Tài sản thuần tiền mặt chủ yếu được giữ vì mục đích vận hành
Vốn nước ngoài mua bất động sản và tài sản hữu hình của Mỹ, theo đúng nghĩa đen, là đầu tư. Bạn nghĩ số tiền đó đi đâu? Nó đến tay những người đã tạo ra các tòa nhà và tài sản đó. Họ không đem tiền đi đốt, mà tạo thêm nhiều tòa nhà và tài sản để bán cho nhà đầu tư nước ngoài. Và các tài sản đó vẫn là tài sản sản xuất nằm trong nước Mỹ, chỉ là đổi chủ sở hữu
Cũng có các cơ chế khác như lạm phát giá trị thị trường. Ví dụ, một công ty nhận được kỳ vọng quá nóng như OpenAI có thể huy động tiền bằng nợ, và số tiền đó được các ngân hàng tư nhân tạo ra từ hư không
Có câu “thâm hụt phát sinh vì tiết kiệm trong nước liên tục không đủ, đến mức cần vốn nước ngoài để tài trợ cho chi tiêu đầu tư trong nước”; tại sao không nhìn theo cách này?
Thâm hụt phát sinh vì vốn nước ngoài liên tục dư thừa đến mức đủ để tài trợ cho đầu tư trong nước. Có thể là vì nền kinh tế tạo ra suất sinh lợi cao và chào đón đầu tư nước ngoài
Câu “mục tiêu đạt được thâm hụt thương mại nhỏ hơn nhiều khả năng sẽ gây đau đớn” là đúng, nhưng đây là kiểu kinh tế học trong bình kín
Chiến tranh thế giới cũng “nhiều khả năng gây đau đớn”, và trong tình huống đó cần nhà máy trong nước và đồng tiền mất giá để tăng cơ hội chiến thắng
Nếu là một thế giới chân không hoàn toàn hòa bình, khổng lồ và ổn định, thì việc có vị thế đồng tiền dự trữ toàn cầu, duy trì thâm hụt thương mại và “nâng cao năng lực sản xuất của nền kinh tế” sẽ tốt hơn nhiều so với các lựa chọn thay thế, nhưng thực tế không đơn giản như vậy
Nhập khẩu cái gì và từ ai? Tầng lớp lao động thất nghiệp có ôn hòa về chính trị không, hay bạo lực? Năng lực sản xuất có thể làm ra tàu chiến và tên lửa không? Doanh thu quảng cáo rất tuyệt, nhưng nó có thể đánh chặn ICBM không?
Nếu mọi hàng hóa đều là widget và chỉ bàn kinh tế mà không có chính trị, thì điều đó hoàn toàn đúng. Nhưng thực tế không phải vậy
Tôi tò mò liệu có nghiên cứu nào về mối quan hệ giữa khả năng tiếp cận hàng hóa nước ngoài giá rẻ và tiết kiệm·đầu tư trong nước không
Ví dụ, nếu có thể kiếm lợi nhuận từ hàng sản xuất trong nước thì người ta có đầu tư trong nước nhiều hơn không? Có thể xem sự tồn tại của hàng Trung Quốc giá rẻ là yếu tố kìm hãm đầu tư trong nước không? Giống như Apple đã đầu tư hàng chục tỷ USD vào chuỗi cung ứng Trung Quốc
Tôi cũng tò mò vì sao EU không liên tục thâm hụt thương mại
Thứ mà bài của Fed gọi là “khoảng cách tiết kiệm” thực ra gần với khoảng cách tài khóa đã được lấp bằng trái phiếu Kho bạc Mỹ hơn
Nếu gộp nền kinh tế EU lại, thâm hụt của Tây Ban Nha có thể khá dễ bị che lấp trong thặng dư của Đức. Ví dụ, tôi nhớ thặng dư của Đức từng vào khoảng gấp 10 lần thâm hụt của Tây Ban Nha
Xét toàn EU thì tôi không rõ, nhưng có thể là do cơ cấu kinh tế rất đa dạng, tổng mức tiêu dùng thấp và lương ở EU thấp
Giả thuyết dư thừa tiết kiệm toàn cầu của Ben Bernanke là một luận điểm thú vị rằng nhu cầu quá mức đối với tài sản tài chính Mỹ có thể là một yếu tố chính tạo ra bong bóng nhà ở năm 2008
Ngược lại, nếu hàng nhập khẩu rẻ đến mức người ta tiêu dùng nhiều hơn, cùng một tình huống đó cũng có thể làm giảm tiết kiệm
Đẳng thức kế toán rốt cuộc không giải thích gì ngoài sự thật toán học rằng tổng tiền phải khớp. Tiết kiệm không tự thân là tốt, và thâm hụt cũng không tự thân là xấu
Câu trả lời rất đơn giản. Thâm hụt thương mại là một khái niệm từ thế kỷ 19 nên không thể thể hiện đầy đủ cách hệ thống tài chính quốc tế hiện đại vận hành
Bản thân ý tưởng về cân bằng thương mại hoàn toàn vô lý
Lấy New Zealand làm ví dụ: năm ngoái, mặt hàng nhập khẩu chính từ New Zealand vào Mỹ là rượu vang
Mặt hàng xuất khẩu chính từ Mỹ sang New Zealand là thiết bị quân sự
Nhưng tại sao giá trị đô la của rượu vang mua từ một người nào đó lại phải bằng giá trị đô la của thiết bị quân sự bán cho người đó?
Không có lý do gì thương mại giữa hai nước phải cân bằng. Vì vậy, việc cho rằng tổng thương mại với tất cả các nước cũng phải cân bằng, hoặc cân bằng như vậy sẽ tốt hơn, cũng không hợp lý
Giữa New Zealand và Mỹ có thể có mất cân bằng thương mại, nhưng bất kỳ nước nào vẫn có thể không có thâm hụt thương mại tổng thể
Ý chính là nếu New Zealand bán rượu vang và mua máy bay chiến đấu, thì để toàn bộ thương mại cân bằng, họ phải bán đủ rượu vang cho phần còn lại của thế giới để trả tiền máy bay chiến đấu. Dù có mất cân bằng trong giao thương với Mỹ, nếu tổng thể cân bằng thì không vấn đề gì
Lý do Mỹ bị thâm hụt thương mại cũng giống lý do tôi bị thâm hụt thương mại với thợ cắt tóc và cửa hàng tạp hóa
Bài viết thật sự rất hay
Ví dụ về dầu mỏ là một trường hợp thuyết phục về thay thế nhập khẩu, còn ví dụ COVID cho thấy một cách thú vị rằng tỷ lệ tiết kiệm tăng chỉ thể hiện như phần bù trừ cho chi tiêu của chính phủ
Tôi muốn xem tiếp (a) liệu việc Mỹ tăng tiết kiệm trong nước có quan trọng không, (b) nếu có thì chính sách nào là tốt nhất và vì sao
Tôi hình dung thuế quan toàn diện thực sự có thể làm tăng tỷ lệ tiết kiệm, vì nó làm tăng chi phí của hàng nhập khẩu nói chung. Điều này có thể đặc biệt đúng khi hàng thay thế trong nước kém hơn hoặc đắt hơn. Tuy nhiên, tôi vẫn thắc mắc liệu đó có phải là cách tốt nhất để đạt mục tiêu tiết kiệm hay không
Ngược lại, Mỹ tự nhiên ở vị thế khá tốt để chạy thâm hụt. Có pháp quyền tốt, cơ hội đầu tư, và thu nhập tương lai của người nhập cư
(b) Cách nhắm vào thâm hụt ngân sách thường hoạt động tốt. Đặc biệt hiện nay thâm hụt đang rất lớn. Tiết kiệm bắt buộc kiểu CPF của Singapore cũng khá hiệu quả, nhưng có lẽ chỉ người Singapore mới không xem nó là thuế