1 điểm bởi GN⁺ 2024-10-04 | 1 bình luận | Chia sẻ qua WhatsApp
  • Nhà phát minh DRAM Robert Dennard qua đời ngày 23 tháng 4 ở tuổi 91, và IEEE cũng tưởng niệm những thành tựu của ông cùng đóng góp của nhiều thành viên IEEE khác qua đời trong năm 2024
  • Năm 1967, Dennard phát minh DRAM, và đến năm 1968 đã thu nhỏ ô RAM xuống còn một tụ điện nhỏ và một transistor hiệu ứng trường đơn, qua đó giảm các giới hạn về kích thước, điện năng và chi phí của RAM trước đó
  • DRAM trở thành tiêu chuẩn của gần như mọi máy tính vào đầu thập niên 1970, và một thập niên sau trở thành nền tảng để các PC đời đầu, gồm cả IBM 5150, thực hiện các tác vụ phức tạp hơn
  • Năm 1972, ông phát triển nguyên lý thu nhỏ linh kiện MOSFET và công bố lý thuyết Dennard scaling trong một bài báo năm 1974, cho rằng mức tiêu thụ điện năng gần như giữ nguyên ngay cả khi transistor được thu nhỏ
  • IEEE cũng tưởng niệm Richard P. Schulz, C. Gordon Bell, Laveen Nanik Kanal, H. Joel Trussell và James Theodore Hardin, đồng thời tổng kết các đóng góp của họ trong các lĩnh vực hệ thống điện, PC đời đầu, AI·nhận dạng mẫu, xử lý tín hiệu và hàng không·sản xuất

DRAM của Robert Dennard và lý thuyết thu nhỏ chất bán dẫn

  • Robert Dennard là người phát minh Dynamic RAM (DRAM) và là IEEE Fellow, qua đời ngày 23 tháng 4 ở tuổi 91
  • Năm 1967, Dennard phát minh DRAM, loại bộ nhớ lưu dữ liệu trong các ô nhớ gồm một tụ điện nhỏ và một transistor
  • Trước DRAM, RAM cần các linh kiện lớn, tiêu thụ nhiều điện năng và chi phí sản xuất cũng cao
  • Phát minh này mở đường cho bộ nhớ giá rẻ, mật độ cao và có thể thương mại hóa
  • Nhờ đổi mới này, Dennard nhận IEEE Medal of Honor vào năm 2009

Sự nghiệp nghiên cứu tại IBM

  • Dennard bắt đầu sự nghiệp với vai trò kỹ sư nhân viên tại phòng thí nghiệm của IBM ở New York City
  • Ông nghiên cứu các thiết bị và mạch mới cho ứng dụng logic và bộ nhớ, đồng thời phát triển các kỹ thuật truyền dữ liệu tiên tiến
  • Năm 1961, ông chuyển đến Watson Research Center của IBM tại Yorktown Heights
  • Tại đây, ông nghiên cứu transistor hiệu ứng trường và mạch tích hợp trong khi làm việc với ô nhớ 6 transistor trên mỗi bit vốn là tiêu chuẩn khi đó
  • Năm 1968, ông thành công trong việc thu nhỏ ô RAM xuống còn một tụ điện nhỏ và một transistor hiệu ứng trường đơn, và thiết bị này được biết đến với tên DRAM
  • Cùng năm đó, ông được cấp bằng sáng chế tại Mỹ

Sự phổ biến của DRAM và vai trò trong kỷ nguyên PC

  • Vào đầu thập niên 1970, DRAM trở thành tiêu chuẩn trên thực tế của hầu hết mọi máy tính
  • Một thập niên sau, nó được dùng trong các PC đời đầu, gồm cả IBM 5150
  • Loại bộ nhớ này giúp các PC đời đầu có thể thực hiện những phép tính phức tạp hơn

Dennard scaling và nghiên cứu MOSFET

  • Sau thành công của DRAM, Dennard tập trung vào nghiên cứu thu nhỏ transistor
  • Năm 1972, ông phát triển nguyên lý thu nhỏ cho transistor hiệu ứng trường bán dẫn oxide kim loại, tức MOSFET
  • MOSFET là thành phần chủ chốt của các chip VLSI tiêu thụ điện năng thấp và hiệu năng cao
  • Nếu Gordon Moore dự đoán số lượng transistor trên chip sẽ tăng gấp đôi sau mỗi 2 năm, thì Dennard cho rằng mức tiêu thụ điện năng gần như được giữ nguyên ngay cả khi transistor được thu nhỏ
  • Lý thuyết này về sau được biết đến với tên Dennard scaling, và được công bố cùng các nguyên lý nền tảng trong bài báo năm 1974 “Design of Ion-Implanted MOSFETs With Very Small Physical Dimensions”

Giải thưởng và học vấn

  • Dennard được bổ nhiệm làm IBM Fellow vào năm 1979
  • Trong nhiều thập niên sau đó tại IBM, ông nghiên cứu công nghệ metal-oxide-semiconductor, cải tiến RAM và các mạch hiệu năng cao điện áp thấp
  • Các giải thưởng và ghi nhận chính
  • Ông nhận bằng cử nhân và thạc sĩ kỹ thuật điện tại Southern Methodist University vào các năm 1954 và 1956
  • Hai năm sau, ông nhận bằng tiến sĩ kỹ thuật điện tại Carnegie Institute of Technology, nay là một phần của Carnegie Mellon

Các thành viên IEEE được tưởng niệm cùng ông

  • Richard P. Schulz

    • Kỹ sư hệ thống điện Richard P. Schulz là IEEE Life Fellow, qua đời ngày 29 tháng 5 ở tuổi 87
    • Ông bắt đầu sự nghiệp năm 1959 với vai trò kỹ sư hệ thống điện tại General Electric, rồi chuyển sang American Electric Power năm 1987
    • Sau khi nghỉ hưu năm 2000, ông hoạt động như một tư vấn viên
    • Ông chuyên về phân tích hệ thống điện, là thành viên IEEE Power & Energy Society, và là tác giả hoặc đồng tác giả của 32 bài báo về độ tin cậy trong kiểm thử lưới điện
    • Ông nhận bằng cử nhân kỹ thuật điện và cơ khí tại Lehigh University năm 1959, và bằng thạc sĩ tại Union College năm 1966
  • C. Gordon Bell

    • C. Gordon Bell là nhà phát triển PC đời đầu và là IEEE Fellow, qua đời ngày 17 tháng 5 ở tuổi 89
    • Ông góp phần phát triển PC đời đầu tại Digital Equipment Corp. và nhận IEEE John Von Neumann Medal vào năm 1992
    • Ông gia nhập DEC năm 1960 để thiết kế minicomputer và máy tính chia sẻ thời gian
    • Năm 1972, ông quay lại DEC với vai trò phó chủ tịch R&D và dẫn dắt việc phát triển VAX minicomputer
    • Dòng VAX ra mắt năm 1977 cung cấp kiến trúc tập lệnh 32 bit và bộ nhớ ảo
    • Hệ điều hành VMS cho phép các tính năng mới như chia sẻ tệp và mạng
    • Năm 1979, ông cùng Ken Olsen thành lập Digital Computer Museum, và bộ sưu tập của nơi này hiện là một phần của Computer History Museum
    • Ông thành lập Encore Computer Co. để hỗ trợ phát triển các máy tính đa vi xử lý đời đầu, đồng thời cũng là phó giám đốc đầu tiên của NSF Directorate for Computer and Information Science and Engineering
    • Tại Microsoft, ông tập trung vào công nghệ telepresence và nghiên cứu đa phương tiện, rồi nghỉ hưu năm 2015
    • Ông nhận bằng cử nhân và thạc sĩ kỹ thuật điện tại MIT vào các năm 1956 và 1957
  • Laveen Nanik Kanal

    • Laveen Nanik Kanal là nhà sáng lập kiêm chủ tịch LNK, là IEEE Life Fellow, và qua đời ngày 3 tháng 5 ở tuổi 92
    • Ông giảng dạy 26 năm với vai trò giáo sư khoa học máy tính tại University of Maryland
    • Ông thành lập LNK tại Germantown và giữ chức chủ tịch trong 30 năm; công ty chuyên về nhận dạng mẫu, xử lý ảnh và AI
    • Năm 1948, ông di cư từ Ấn Độ sang Mỹ và nhận bằng cử nhân, thạc sĩ kỹ thuật điện tại University of Washington
    • Sau khi làm việc tại Canada General Electric, General Dynamics và Philco-Ford, ông thành lập LNK vào năm 1968
    • Năm 1970, ông chuyển sang University of Maryland làm giáo sư và đóng vai trò quan trọng trong việc thành lập, mở rộng khoa khoa học máy tính
    • Từ năm 1974 đến 1989, ông là giám đốc Machine Intelligence and Pattern Analysis Laboratory, nay là Center for Machine Learning
    • Ông là Fellow của AAAI, AAAS và International Association for Pattern Recognition, đồng thời nhận King-Sun Fu Prize của IAPR năm 1992
  • H. Joel Trussell

    • H. Joel Trussell là IEEE Fellow và qua đời ngày 9 tháng 4 ở tuổi 79
    • Ông giữ chức tổng biên tập Proceedings of the IEEE từ năm 2013 đến 2018
    • Ông cũng từng là thành viên editorial advisory board của The Institute
    • Là một nhà nghiên cứu xử lý tín hiệu và hình ảnh, ông dành 11 năm đầu sự nghiệp tại Los Alamos National Laboratory
    • Sau Heriot-Watt University, ông gia nhập North Carolina State University năm 1980 với vai trò giáo sư kỹ thuật điện và máy tính, làm việc 40 năm trước khi nghỉ hưu năm 2020
    • Các mối quan tâm nghiên cứu của ông gồm lý thuyết ước lượng, tạo ảnh màu, phục hồi và tái tạo tín hiệu·hình ảnh
    • Ông giới thiệu các công cụ toán học mới để mô hình hóa và tích hợp dữ liệu tiên nghiệm nhằm xử lý các bài toán khôi phục tín hiệu, đồng thời xây dựng một khung toán học cho nghiên cứu tạo ảnh màu
    • Trong thời gian tại Proceedings of the IEEE, ông biên tập hơn 200 bài báo
    • Ông nhận bằng cử nhân toán ứng dụng tại Georgia Tech năm 1967, bằng thạc sĩ tại Florida State University năm 1968, và bằng tiến sĩ kỹ thuật điện·khoa học máy tính tại University of New Mexico năm 1976
  • James Theodore Hardin

    • James Theodore Hardin là IEEE Member và qua đời ngày 19 tháng 1 ở tuổi 89
    • Ông từng là phó chủ tịch kiêm kỹ sư trưởng tại Innovative Applications Corp. ở El Paso
    • IAC chuyên xử lý và tái chế hộp mực laser toner
    • Đầu thập niên 1950, ông làm kỹ sư tại Lockheed Corp. và góp phần thiết kế chiếc chuyên cơ tổng thống Mỹ Air Force One
    • Năm 1957, ông nhập ngũ Hải quân Mỹ và phục vụ với vai trò sĩ quan vũ khí hạt nhân trên USS Coral Sea
    • Sau khi kết thúc thời gian tại ngũ năm 1963, ông tiếp tục ở lại Navy Reserve và nghỉ hưu với quân hàm đại úy vào thập niên 1980
    • Trong khu vực dân sự, ông đảm nhiệm các vai trò kỹ sư và quản lý tại Prestolite Electric, Septor Electronics Corp. và IAC
    • Ông nhận bằng cử nhân và thạc sĩ kỹ thuật cơ khí tại Bradley University vào các năm 1956 và 1963

1 bình luận

 
GN⁺ 2024-10-04
Ý kiến trên Hacker News
  • Dennard scaling có thể được xem là một quy luật scaling chip quan trọng không kém định luật Moore
    https://en.wikipedia.org/wiki/Dennard_scaling
    Khi quy luật này kết thúc, kiến trúc Pentium 4 trở thành ngõ cụt, không đạt được mức 10GHz như kỳ vọng ban đầu, và bộ xử lý Cell cũng không chạm tới mục tiêu 5GHz
    Vì vậy ngân sách transistor được dùng cho nhiều core hơn thay vì một core CPU đơn lẻ hoành tráng với hàng chục tỷ transistor; còn trên các chip có giới hạn nhiệt thấp, xuất hiện nhiều silicon bất hoạt (dead silicon) thực tế không thể dùng vì nếu bật toàn bộ chip cùng lúc thì sẽ nóng chảy

    • Với người trong ngành, Dennard scaling khi còn khả thi quan trọng hơn định luật Moore rất nhiều
      Moore đưa ra một quan sát ở cấp độ cao, còn Dennard cho thấy cách đạt được điều đó
    • Cùng thời đó, PowerPC 970, tức G5, cũng không đạt được 3GHz, phá vỡ lời hứa mà Steve Jobs từng công khai đưa ra tại keynote của Apple
    • Thời kỳ Dennard scaling đang ở đỉnh cao thật sự rất ấn tượng
      Từ Pentium đời đầu 60MHz ngày 22/3/1993 đến Pentium III 600MHz ngày 2/8/1999 chỉ mất 6 năm, và một năm sau đã có thể mua sản phẩm 1GHz
    • Phần này thì tôi luôn thấy khó hiểu. Intel thật sự không dự đoán được chuyện này sao?
      Tôi nhớ từng nói chuyện với các kỹ sư Intel vào thời họ hứa hẹn 10GHz trong tương lai gần; hình như lúc đó tên mã là Tejas, và họ trông khá tự tin
      Kiến trúc hẳn đã được lên kế hoạch sẵn, nhưng nhìn từ bên ngoài thì có vẻ sự kết thúc của Dennard scaling là một cú surprise hoàn toàn đối với Intel
    • Giờ mỗi lần một bài paper bắt đầu bằng “Since the end of Dennard scaling…” chắc tôi sẽ hơi buồn
  • Ông qua đời 5 tháng trước, nhưng có vẻ không được chú ý nhiều trên HN
    https://news.ycombinator.com/item?id=40276464
    Khi đó các media chính thống đã đăng cáo phó: https://www.nytimes.com/2024/05/16/technology/robert-dennard...

  • Tôi ngạc nhiên vì khi tin này xuất hiện hồi tháng 4, nó không được bàn nhiều trên HN
    Xét đến đóng góp của Dennard cho công nghệ, ông xứng đáng nhận được nhiều sự quan tâm hơn

  • Thật đáng ngưỡng mộ khi ông sống đến 91 tuổi; tôi cũng muốn sống lâu như những người như vậy
    Phát minh ra thứ gì đó hữu ích đã là tuyệt vời, nhưng được chứng kiến nó phát triển suốt cả đời lại là một chuyện khác

    • Roger Penrose đã 93 tuổi mà vẫn cực kỳ minh mẫn
    • Chẳng phải cũng có người nhận giải Nobel thứ hai ở tuổi 98 sao?
  • Thật tiếc khi những người giúp thế giới này trở nên khả thi lại gần như không được biết đến, ở trong bóng tối như vậy
    Chúng ta nên tôn vinh và kể nhiều hơn về các nhà khoa học và kỹ sư; có những người quan trọng không kém Einstein, Lorenz, Feynman nhưng gần như không hiện diện trong văn hóa ngày nay

  • Bob Dennard thích Scottish country dancing, và nhờ mối liên hệ đó mà tôi biết ông
    Ông là một người tử tế và khiêm nhường

  • Thảo luận 4 tháng trước: https://news.ycombinator.com/item?id=40276464

  • Ông đã qua đời vài tháng trước
    Theo những gì tôi nghe được, ông thật sự là một người rất có phẩm cách