1 điểm bởi GN⁺ 2 ngày trước | 1 bình luận | Chia sẻ qua WhatsApp
  • Việc làm cha không chỉ kéo theo thay đổi hành vi sau sinh mà còn đi kèm biến đổi hormonethích nghi của não bộ, và mức thay đổi này có xu hướng lớn hơn khi người cha tham gia chăm sóc nhiều hơn
  • So với nam giới không có con, ở các ông bố thường ghi nhận giảm testosterone, và mức thấp hơn trong thai kỳ có liên hệ với mức độ tham gia chăm sóc cao hơn sau khi sinh
  • Những thay đổi về oxytocin, prolactinvasopressin cũng được quan sát, với xu hướng phản ứng này nổi bật hơn khi có nhiều tiếp xúc, vui chơi và gắn kết sớm với em bé hơn
  • Các nghiên cứu so sánh trước và sau khi có con đầu lòng đã xác nhận thay đổi thần kinh học phù hợp với trải nghiệm mới và nhiệm vụ nuôi dạy con, với mức thay đổi lớn hơn khi có cảm giác gắn bó với thai nhi mạnh hơn hoặc có kế hoạch parental leave dài hơn
  • Chính sách gia đình hỗ trợ vai trò chăm sóc chính và sự tham gia từ sớm là rất quan trọng, và cũng có các kết quả nghiên cứu cho thấy sự tham gia tích cực của người cha có liên hệ với sức khỏe tinh thần của người mẹ và sức khỏe tim mạch của trẻ

Biến đổi hormone và sự chuẩn bị cho việc chăm sóc

  • Ở nhiều loài động vật có vú đực, sự tăng giảm của các hormone như testosterone, vasopressinprolactin xuất hiện cùng với hành vi nuôi con tích cực, và các nghiên cứu về người cha ở con người cũng khởi đầu từ dòng nghiên cứu này
  • Các nghiên cứu ban đầu trên con người cũng xác nhận rằng ở các ông bố có xu hướng mức testosterone thấp hơn so với nam giới không có con
    • Ban đầu còn khó phân biệt liệu testosterone thấp là yếu tố có trước, hay là thay đổi xuất hiện sau khi trở thành cha
  • Trong dự án theo dõi dài hạn tại Cebu City, nước bọt của 624 nam giới trung bình 21 tuổi, khi đó chưa có bạn đời, được thu thập vào năm 2005 và kiểm tra lại sau 4 năm
    • Trong khoảng thời gian đó, những người trở thành cha được xác nhận có mức testosterone thấp hơn đáng kể so với nhóm không làm cha
    • Những người cha dành nhiều thời gian chăm em bé hơn cũng cho thấy mức giảm testosterone lớn hơn
    • Ở các ông bố ngủ chung giường với em bé cũng ghi nhận mức thấp hơn
  • Các nghiên cứu khác cũng cho thấy sự giảm testosterone trong thời gian bạn đời mang thai có liên hệ với mức đầu tư, cam kết và sự hài lòng cao hơn sau sinh, đồng thời cũng liên quan đến mức cảnh giác và phản ứng cao hơn trước tiếng khóc của em bé
  • Kết quả từ phòng thí nghiệm Gettler năm 2018 cho thấy các ông bố có testosterone thấp có xu hướng tham gia nhiều hơn vào việc chăm sóc trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ

Những thay đổi bắt đầu từ trước khi sinh

  • Nhóm của James K Rilling từng dự đoán thay đổi sẽ bắt đầu sau các tương tác hậu sinh, nhưng đã xác nhận thay đổi ngay ở những người đàn ông sắp làm cha tại thời điểm thai kỳ 4 tháng
    • So với nhóm đối chứng, cả testosteronevasopressin đều ở mức thấp hơn
  • Những người đàn ông có testosterone thấp hơn trong thai kỳ thường tham gia nhiều hơn với người mẹ và em bé sau khi sinh, và vasopressin cũng cho thấy hiệu ứng tương tự
  • Nguyên nhân của các thay đổi này vẫn chưa rõ
    • Có khả năng là pheromonal cue từ người bạn đời đang mang thai
    • Cũng có thể là sự chuyển đổi tâm lý sau khi nhận thức được việc đang chờ đón một đứa trẻ
    • Hiện chưa thể khẳng định bên nào

Oxytocin và những thay đổi hormone khác

  • oxytocin cũng tăng cao ở người cha, và đã có các nghiên cứu liên quan cả với trường hợp có con từ 1~2 tuổi lẫn khi tương tác với em bé dưới 6 tháng tuổi
    • Mức tăng này có xu hướng tương ứng với lượng thời gian ở bên con
  • Ở các ông bố vui chơi và tiếp xúc với con nhiều hơn, ghi nhận oxytocin tăng
    • Khi lần đầu bế trẻ sơ sinh cũng quan sát thấy thay đổi tương tự
  • Trong các nghiên cứu dùng oxytocin xịt mũi, ghi nhận phản ứng đầu của người cha chuyển động nhanh hơn khi tương tác với em bé
    • Từ đó đặt ra khả năng về một vòng lặp tự củng cố, trong đó oxytocin tăng thúc đẩy tương tác nhiều hơn, và chính tương tác đó lại tiếp tục làm tăng oxytocin
  • Nghiên cứu năm 2025 cho thấy vasopressin, vốn ở động vật thường gắn với tính lãnh thổ và hành vi gây hấn giữa các con đực, đã bị ức chế ở những người cha mới ngay từ trước khi trẻ chào đời
  • prolactin cũng được đề xuất là một hormone ứng viên có liên hệ với chăm sóc của người cha
    • Bài viết nhắc đến các trường hợp liên quan đến chăm sóc con ở các loài khác như chim, cá và marmoset
    • Trong nghiên cứu do Darby Saxbe dẫn dắt năm 2023, những người đàn ông sắp làm cha cảm thấy gắn bó mạnh hơn với thai nhi có mức prolactin cao hơn, và mức trước sinh dự đoán mức độ tham gia chăm sóc về sau
  • Cũng như oxytocin, các biến đổi hormone này có xu hướng rõ nét hơn ở những người cha chăm sóc nhiều hơn

Thay đổi của não bộ và quá trình chuyển sang làm cha

  • Darby Saxbe chú ý rằng những người cha, vốn không trực tiếp trải qua thai kỳ, là một nhóm phù hợp để tách riêng hiệu ứng của chính trải nghiệm nuôi dạy con
  • Trong các nghiên cứu quét não trước và sau sinh ở những người cha có con đầu lòng, đã xác nhận những thay đổi thần kinh học
    • Não bộ dường như được điều chỉnh để thích nghi với trải nghiệm và thông tin mới
  • Saxbe ví sự chuyển đổi này như một giai đoạn phát triển tương tự tuổi dậy thì
    • Bà nhấn mạnh đây là thời kỳ não bộ thích nghi với các nhiệm vụ, kích thích và suy nghĩ mới
  • Các nghiên cứu tiếp theo cho thấy mức thay đổi của não lớn hơn ở những người đàn ông cảm thấy gắn bó mạnh hơn với em bé chưa chào đời hoặc có kế hoạch parental leave dài hơn
  • Năm 2026, Rilling cũng báo cáo bằng chứng về thay đổi não bộ tương tự ở những người cha mới
  • Nhìn chung, những thay đổi trong cơ thể và não bộ của người cha mang tính use it or lose it: càng tham gia nhiều thì thay đổi càng lớn

Năng lực chăm sóc tiềm ẩn và chính sách gia đình

  • Sarah Blaffer Hrdy cho rằng trong toàn bộ não người tồn tại một alloparental substrate có thể được kích hoạt trong những điều kiện phù hợp
    • Đây là góc nhìn cho rằng trong quá trình tiến hóa của xã hội loài người, việc nuôi dạy con theo nhóm đã góp phần vào sự hưng thịnh, và năng lực để nam giới trở thành người chăm sóc chính cho trẻ sơ sinh cũng đã cùng phát triển
  • Trong nghiên cứu của Ruth Feldman năm 2014, phản ứng não được so sánh giữa các cặp dị tính và các cặp đồng tính nam nuôi con không có phụ nữ trong gia đình
    • Ở các cặp dị tính nơi người phụ nữ là người chăm sóc chính, não của phụ nữ kích hoạt mạnh hơn ở các vùng phản ứng bản năng như amygdala
    • Nam giới trong cùng gia đình lại cho thấy hoạt động lớn hơn ở các vùng xử lý xã hội
    • Ngược lại, ở những người đàn ông đồng tính nam đảm nhận vai trò chăm sóc chính, hoạt động ở amygdala và các vùng thường được gọi là vùng maternal rất tương đồng, đồng thời vẫn duy trì yếu tố xã hội
  • Những kết quả này gợi ý rằng vai trò chăm sóc chính thực sự có thể tái cấu trúc các mạch não của người cha
  • Nhiều chuyên gia và tài liệu liên quan cho rằng cần phản ánh sinh học của tình trạng làm cha này tích cực hơn trong chính sách gia đình
    • Cải thiện parental leave là yếu tố thúc đẩy sự hình thành gắn kết giữa cha và con
    • Sự tham gia từ sớm như dự siêu âm, đi cùng trong các buổi khám, và tương tác tích cực với bạn đời trong thai kỳ là rất quan trọng
  • Người cha tham gia tích cực cũng mang lại lợi ích cho cả gia đình
    • Các nghiên cứu ở Pakistan, Kenya và Mỹ đã báo cáo cải thiện sức khỏe tinh thần ở những người mẹ có bạn đời tham gia tích cực hơn
  • Trong một nghiên cứu quy mô lớn theo dõi 292 hộ gia đình trong 7 năm và được công bố đầu năm 2026, trẻ có người cha chăm sóc chu đáo hơn được xác nhận có sức khỏe tim mạch tốt hơn
    • Bài viết nêu rõ hiệu ứng tương tự không xuất hiện ở hành vi của người mẹ

1 bình luận

 
Ý kiến trên Hacker News
  • Từ góc nhìn của một ông bố, tôi cảm thấy sự thay đổi này có khi không phải do testosterone tự thân mà đơn giản là do thiếu ngủ. Những ông bố tham gia chăm con tích cực thường ngủ ít hơn

    • Cha mẹ cũng dễ tăng cân, và có nghiên cứu cho thấy BMI tăng có liên quan đến việc T giảm. Xem bài nghiên cứu liên quan, cách giải thích này cũng khá hợp lý
    • Đúng vậy. Rối loạn giấc ngủ mạn tính là một yếu tố nổi tiếng làm giảm T, và tôi thấy nó cũng giải thích trực tiếp hơn cho những thay đổi nhỏ đã được quan sát
    • Tuy vậy, tôi nhớ là trong một số nghiên cứu được nhắc đến, thay đổi hormone đã được quan sát từ trước khi đứa trẻ ra đời
    • Xét theo tiến hóa thì điều này cũng hợp lý. Testosterone thấp có thể làm giảm tính phóng túng và phù hợp hơn với vai trò làm cha
    • Tôi nghĩ hướng lớn là đúng. Giảm ngủ cùng với thói quen ăn uống tệ hơn và uống rượu do phản ứng với căng thẳng đều dễ bào mòn T, nên khá tiếc là BBC không chỉ ra mối liên hệ đó
  • Với tư cách là một ông bố gần 50 tuổi đã nuôi ba con gái, tôi thấy câu chuyện này rõ ràng có một phần sự thật có thể cảm nhận được. Dù đó hoàn toàn là hiệu ứng bước ngoặt cuộc đời của việc nuôi con hay còn bao gồm cả thay đổi sinh học thì tôi không biết, nhưng đôi khi vẫn có thể cảm nhận được phần nào một người đàn ông có phải là bố hay không

    • Tôi cũng trong hoàn cảnh tương tự nên rất đồng cảm. Đời tôi bị chia hẳn thành trước và sau khi có con, và nó đổi hướng cuộc sống mạnh hơn bất kỳ sự kiện nào khác. Con người của tôi trước khi có con giờ nhìn lại thấy hơi nông và thiên về khoái lạc, và khoảnh khắc tôi bắt đầu đặt ai đó lên trước cả bản thân chính là lúc tôi trở thành cha. Vì vậy sau khi con cái tự lập, cảm giác mất mục đích sống cũng ùa đến khá mạnh
    • Dù có nói đây không phải sinh học thì cuối cùng nó vẫn biểu hiện thành thích nghi sinh học với môi trường, điều đó theo tôi là tự nhiên. Làm cha mẹ kéo theo nghèo khó, căng thẳng, mệt mỏi và nhiều con đường khác; kể cả có đủ tiền để thuê người chăm đêm thì việc cơ thể và não phản ứng với thay đổi lớn của cuộc sống cũng chẳng có gì lạ. Cách bài báo xử lý nó như một biến đổi huyền bí mới là thứ có vẻ phóng đại hơn
    • Tôi cũng thấy khi làm cha mẹ thì mình ít bị dao động bởi những chuyện vặt hơn. Nếu không liên quan trực tiếp đến con tôi thì có những thứ tôi không còn để tâm nhiều như trước
    • Đúng là vậy. Ở những ông bố khác, sự kiên nhẫn và cảm giác luôn để mắt đến trẻ nhỏ gần như là mặc định, còn ở nam giới không có con thì tôi thấy tỷ lệ đó thấp hơn hẳn. Tất nhiên cũng có thể là những người tôi giao du vốn đã là một nhóm tự chọn ở mức độ nào đó
    • Điều buồn cười là ở nơi công cộng, các ông bố cứ hay nghĩ tôi cũng là bố. Thật ra tôi là cậu đi cùng cháu gái, nhưng vì tôi và chị/em gái tôi rất giống nhau, mà đứa bé cũng giống mẹ nó như đúc nên có lẽ vậy. Tôi không thể có con, nên tôi dồn nhiều tình cảm hơn vào khoảng thời gian ở bên cháu
  • Trước khi có con, tôi từng tin theo tiên nghiệm rằng việc nuôi con chắc sẽ không vui lắm. Xét theo tiến hóa, tôi nghĩ nếu việc nuôi con mà vui thì chẳng cần phải thưởng mạnh đến thế cho chính hành vi sinh sản; nhưng giờ nhìn lại thì ý nghĩ đó khá đơn giản. Thực tế là trải nghiệm nuôi dạy con cái tự nó mang tính củng cố, rất tuyệt, và tạo ra động lực mạnh mẽ trong tôi

    • Tôi cũng bất ngờ với niềm vui của vai trò làm cha. Với trẻ sơ sinh, mọi thứ trên đời đều là lần đầu nên chỉ một cái cây mới nhìn thấy cũng có thể cùng nhau trầm trồ. Lớn thêm chút nữa thì quá trình học hỏi, kết nối và hình thành cá tính riêng thật sự rất thú vị; đôi khi con còn chỉ ra những điều tôi bỏ lỡ hoặc dạy tôi điều gì đó. Ít nhất cho tới giờ, tôi thấy chúng càng lớn thì càng vui hơn
    • Thành thật mà nói tôi khó đồng ý. Việc nuôi con với tôi là một thử thách rất lớn, có lẽ tôi phải đợi tới khi chúng lớn hơn một chút mới biết được chăng
    • Với tôi thì không có sự chuyển biến kịch tính như vậy. Cảm giác về bản thân tôi gần như vẫn giống hệt trước và sau khi có con, và giờ khi con đã trưởng thành thì chỉ còn lại một cảm giác hơi lạ lùng mà thôi
    • Thực ra suy luận ban đầu đó có thể không hoàn toàn sai. Về mặt chủ quan, nuôi con có thể thấy vui, nhưng nếu nhìn vào nghiên cứu về mức độ hài lòng với cuộc sống một cách khách quan thì sự hài lòng sau sinh giảm xuống xuất hiện khá nhất quán. Có vẻ như nó giảm mạnh khi em bé ra đời, lại giảm thêm quanh mốc 3 tuổi, dao động mạnh lần nữa ở tuổi dậy thì, rồi chỉ quay lại mức nền sau khi con rời nhà — mẫu hình này khá thú vị
  • Chia sẻ thêm từ trải nghiệm của tôi: tôi làm việc toàn thời gian nhưng cũng tự xem mình là một ông bố tham gia chăm con khá nhiều. Sau khi con gái ra đời, vì căng thẳng và thiếu ngủ, tôi nhận ra mình phải sắp xếp lại cuộc sống với tập tạ đều đặn, ăn uống gọn gàng và gần như bỏ rượu. Kết quả là sau vài năm, thể chất lẫn tinh thần của tôi tốt hơn hẳn; xét nghiệm máu gần đây cho thấy chỉ số T của tôi gần như gấp đôi so với trước khi làm cha, lên mức hơi cao hơn trung bình. Với tôi, vai trò làm cha là cú hích khiến tôi phải chăm sóc bản thân trước để có thể chăm sóc gia đình

    • Tôi hiểu. Tôi cũng bỏ thuốc lá khi đứa con đầu tiên chào đời. Khoảnh khắc có một sinh linh trong tay khiến mọi thứ giống như một khoản đầu tư dài hạn, ý chí muốn sống lâu mạnh hơn rất nhiều, và ít nhất tôi cũng muốn nhìn thấy con mình trưởng thành, tự lập
    • Có thể nghe hơi sắc, nhưng nếu cần một kích thích từ bên ngoài mới chịu tự cải thiện bản thân thì người ta cũng sẽ tự hỏi liệu anh đã sẵn sàng làm cha đến đâu. Dù vậy, cuối cùng học được vẫn tốt hơn nhiều so với không bao giờ học
  • Tôi thấy bài viết này được đóng khung khá nặng về ý thức hệ và cách diễn giải cũng thiên lệch. Nó mặc định rằng điều trẻ cần tự động là một kiểu khuynh hướng chăm bẵm, rồi đọc ra theo hướng nam tính điển hình thì ít tốt hơn cho trẻ, thậm chí như thể còn gài vào thông điệp ngầm rằng T cao đồng nghĩa với chăm sóc kém hơn. Đây không phải cách diễn giải duy nhất

    • Việc nói rằng trẻ cần sự chăm sóc tự nó không phải điều gì quá gây tranh cãi. Ý chính của bài là ngay cả những người đàn ông điển hình cũng thực sự chăm con tốt, và việc nói đến sự tham gia nhiều hơn của người cha hay nghỉ chăm con không có nghĩa là hạ thấp T cao hay các hormone khác về mặt đạo đức. Đọc nó như một quan sát rằng lối sống tạo ra thay đổi hormone thì tự nhiên hơn
    • Cũng có nghiên cứu thú vị ở chuột đực làm lung lay những giả định truyền thống về vai trò của testosterone. Tuy vậy, cái mà ta gọi là hình mẫu nam tính điển hình chịu ảnh hưởng văn hóa rất lớn, còn bằng chứng trực tiếp về vai trò nuôi dạy theo giới trong thời cổ xưa thực ra không nhiều như ta tưởng. Bài liên quan cũng đáng xem
    • Vậy thì tôi muốn hỏi lại chính xác là ngoài sự chăm sóc ra, theo bạn trẻ còn cần điều gì hơn
    • Theo tôi, trẻ cần bốn thứ. Theo kiểu truyền thống thì đó là sự bảo vệ và chu cấp từ cha, cùng sự chăm sóc và nuôi dưỡng từ mẹ; đổi vai hoàn toàn thì vẫn có thể, nhưng chia mờ theo kiểu mỗi bên một nửa thì tôi thấy không hợp. Bây giờ cả hai thứ đó đều đã suy yếu: trẻ được người ngoài nuôi, thức ăn thì tệ, còn ngay cả việc cảnh báo nguy hiểm cũng bị coi như tấn công, trong khi sống bằng một thu nhập thì ngày càng không thể trụ nổi
    • Vì thế tôi thường đọc bình luận HN trước cả bài báo. Tôi tin người ở đây hơn BBC, và không hẳn chỉ vì thiên kiến xác nhận; tôi muốn xem nhiều cách diễn giải khác nhau hơn
  • Tôi nghĩ mom brain cũng là thứ có thật. Có nghiên cứu cho thấy trong não sau sinh, những thay đổi cấu trúc quy mô lớn được quan sát khá nhất quán, bất kể có trầm cảm sau sinh hay không. Link bài nghiên cứu

  • Tôi còn thấy lạ là các bình luận khác lại phản ứng khá hoài nghi với kết quả trong bài. Tôi mới làm bố gần đây và sau khi con ra đời, tôi bị tác động cảm xúc rất mạnh. Trước đây tôi khá thờ ơ với những đứa trẻ khác, nhưng với con mình thì phản ứng hoàn toàn khác; càng dành thời gian và chăm con, những lời giải thích như oxytocin tăng và T giảm lại càng thấy hợp lý. Thật sự, ngay cả lần đầu con bập bẹ với tôi, tôi cũng xúc động đến muốn khóc. Và điều tôi thật sự muốn nói là, công ty không có chế độ nghỉ chăm con thì quá tàn nhẫn. Ở Ấn Độ không có bảo đảm pháp lý nên khi tôi xin nghỉ thì gần như bị từ chối trên thực tế; chuyện này quá khó để một mình gánh vác

    • Có lẽ vì tôi lớn tuổi hơn, nhưng chuyện có em bé không khiến tôi cảm thấy sự thay đổi đột ngột như mọi người thường nói. Công việc, sở thích và đời sống xã hội của tôi gần như vẫn như cũ, và những thứ khác cũng không bỗng nhiên kém quan trọng đi. Tuy vậy, trước đây tôi từng coi một em bé khóc là thứ gây phiền và đổ lỗi cho cha mẹ; giờ thì tôi thấm thía rằng em bé chỉ là một con người nhỏ bé đang biểu đạt nhu cầu mà thôi
    • Sự nhạy cảm đó có thể là vì vai trò làm cha làm tăng estradiol. Tôi cũng từng cảm nhận được tác động của estrogen tăng lên khi điều trị testosterone, và trải nghiệm đó giúp tôi hiểu hơn những cảm xúc mà trước đây tôi dễ phán rằng phụ nữ đôi khi phản ứng quá mức
    • Nghiên cứu trên người thường có khác biệt cá nhân rất lớn. Dù kết quả đúng ở mức trung bình, trên thực tế nó vẫn có thể không áp dụng cho hàng triệu người, và tôi luôn ghi nhớ điều đó
    • Tôi từng nghe rất nhiều rằng khoảnh khắc bế con lần đầu sẽ làm mọi thứ thay đổi, nhưng thực tế thì không có gì thay đổi cả. Cả lúc đó lẫn về sau đều vậy
  • Khi trở thành cha mẹ, dường như ai rồi cũng tự nhiên học được những câu kiểu “đừng nói với mẹ nhé”

    • Nghĩ lại thì nó gần như là Vegas protocol được hardcode sẵn vậy. Càng nghĩ tôi càng thấy câu đó đúng thật
  • Một khác biệt đặc biệt rõ ở cha mẹ theo tôi là thói quen đi không gây tiếng động. Gần như mọi bậc cha mẹ đến một lúc nào đó đều mặc định học cách di chuyển yên lặng, và sau một thời gian ở cạnh người chưa có con, bạn sẽ lại nhận ra họ ồn ào vô tư đến mức nào. Có lẽ trải nghiệm vừa ru con ngủ xong mà một tiếng bước chân đã làm nó tỉnh lại khiến kỹ năng này in hẳn vào người

    • Di chuyển nhẹ nhàng đúng là một kỹ năng. Có em bé rồi thì bạn bị buộc phải học ra rằng bình thường mình tạo ra bao nhiêu tiếng động thừa. Hồi nhỏ tôi cũng sống với ông ngoại/nội bị Alzheimer ở tầng dưới, nên đến giờ tôi vẫn có thói quen di chuyển quanh người khác gần như lén lút
    • Và rồi bạn cũng nhận ra tiếng bước chân của tuổi teen to đến mức nào
  • Tôi mất bạn đời khi con mới một tuổi rưỡi, nên thực tế tôi đã đảm nhận vai trò chăm sóc sâu sát hơn rất nhiều so với gần như bất kỳ ông bố nào. Cảm nhận của tôi là trải nghiệm đó gần với vai trò của mẹ hơn, dù tôi cũng tự an ủi rằng chắc mình vẫn đỡ vất vả hơn một số bà mẹ. Vì thế mỗi lần đọc những bài như thế này, tôi lại thấy hơi yên tâm theo kiểu kỳ lạ, như thể được xác nhận rằng tôi đã hỏng đúng bài bản rồi

    • Dù sao đi nữa, nhìn lại thì — hay có lẽ chính vì nhìn lại — tôi tin rằng anh sẽ ngày càng thấy rõ đó rốt cuộc là điều vĩ đại nhất trong cuộc đời mình. Với tôi, sau 27 năm làm cha, đó là kết luận rất rõ ràng