Bộ não lo âu tái định tuyến mạch điều hòa cảm xúc
(nature.com)- Những người tham gia có mức lo âu cao cho thấy tỷ lệ thành công tương tự nhóm không lo âu trong bài kiểm tra ức chế hành vi cảm xúc tự động, nhưng mạch kiểm soát hành vi cảm xúc chuyển trọng tâm từ lateral frontal pole(FPl) sang dlPFC·ACC
- Nghiên cứu kết hợp fMRI, MRS và DWI trong bài kiểm tra tiếp cận-tránh né xã hội để đo không chỉ hiệu năng hành vi mà còn cả tỷ lệ GABA/Glx của FPl và cường độ amygdalofugal projection
- Cả nhóm lo âu cao gồm 52 người với tiêu chí LSAS > 30 và 41 nam giới không lo âu từ nghiên cứu trước đều mắc nhiều lỗi hơn trong điều kiện incongruent, nhưng không xác nhận được khác biệt giữa hai nhóm ở mức hành vi
- Ở người tham gia lo âu cao, FPl có mức GABA thấp hơn so với Glx nên được diễn giải là tăng tính hưng phấn, đồng thời kết nối từ amygdala đến frontal pole cũng mạnh hơn; cường độ kết nối này liên quan đến mức huy động dlPFC tăng lên
- Ngay cả với thách thức điều hòa cảm xúc nhẹ, hiệu năng có thể vẫn được giữ nguyên nhưng não có thể dựa vào các mạch vỏ não trước trán khác, qua đó thu hẹp các khả năng can thiệp như bình thường hóa hoạt động FPl hoặc điều chỉnh giao tiếp FPl-SMC
Kiểm soát hành vi cảm xúc và mạch FPl
- Một trong những khó khăn chính của rối loạn lo âu là né tránh quá mức các tình huống gây sợ hãi, khiến việc học thông qua phơi nhiễm bị cản trở
- Khả năng chuyển xu hướng né tránh mạnh sang hành vi thay thế là một quá trình lựa chọn hành vi linh hoạt; các nghiên cứu trước cho thấy quá trình này phụ thuộc vào một mạch phân tán gồm FPl, posterior parietal cortex, sensorimotor cortex(SMC) và amygdala cùng tương tác
- Khi cần ức chế các hành vi cảm xúc tự động như né tránh xã hội, FPl điều phối mạch phân tán này để dẫn dắt hành vi thích nghi về mặt cảm xúc
- Can thiệp vào FPl sẽ khiến việc lựa chọn hành vi cảm xúc thất bại
- Mức độ huy động FPl khác nhau dự báo khả năng phục hồi trước nguy cơ phát triển rối loạn cảm xúc sau này
- Nghiên cứu này so sánh cách người có mức lo âu cao và người không lo âu kiểm soát hành vi cảm xúc ở cấp độ thần kinh khác nhau ra sao, và sự khác biệt đó gắn với các đặc tính chức năng, cấu trúc và thần kinh hóa học của FPl như thế nào
Người tham gia và bài kiểm tra tiếp cận-tránh né xã hội
- Nhóm lo âu cao được chọn theo tiêu chí Liebowitz Social Anxiety Scale(LSAS) > 30
- Nhóm lo âu cao: N = 52, 14 nam
- Nhóm đối chứng: convenience control group được tuyển và báo cáo trong nghiên cứu trước, N = 41, toàn bộ là nam
- Trên chỉ số lo âu đặc điểm độc lập STAI Y-2, nhóm lo âu cao cũng lo âu hơn nhóm không lo âu: t(84) = 5.5, p < 0.001
- Người tham gia thực hiện social approach-avoidance task
- Họ nhìn happy faces và angry faces rồi kéo hoặc đẩy cần điều khiển để thực hiện hành vi tiếp cận hoặc tránh né
- Điều kiện congruent phù hợp với xu hướng tự động là tiếp cận happy face và né tránh angry face
- Điều kiện incongruent yêu cầu tiếp cận angry face hoặc né tránh happy face, tức phải kiểm soát xu hướng hành vi tự động
- Hiệu năng hành vi tương tự nhau ở hai nhóm
- Độ chính xác ở điều kiện congruent: trung bình 96.3%, độ lệch chuẩn 2.9
- Độ chính xác ở điều kiện incongruent: trung bình 94.3%, độ lệch chuẩn 4.4
- Hiệu ứng chính của congruency đối với tỷ lệ lỗi xuất hiện ở toàn bộ mẫu: b = 0.198, CI [0.1, 0.29]
- Không có khác biệt giữa hai nhóm về congruency effect ở mức hành vi: b = 0.03 [-0.06, 0.12], BF01 = 4.3
fMRI: tín hiệu kiểm soát chuyển từ FPl sang dlPFC·ACC
- fMRI trong lúc làm bài cho thấy khi kiểm soát xu hướng hành vi cảm xúc, hoạt động FPl hai bên tăng lên còn hoạt động SMC hai bên giảm xuống
- Tọa độ FPl hai bên: [32 54 4; −30 56 8]
- Tọa độ SMC hai bên: [42 −26 68; −32 −26 68]
- Phân tích theo nhóm cho thấy FPl activation có ý nghĩa ở người không lo âu, nhưng người lo âu cao không cho thấy neural congruency effect đủ tin cậy về mặt thống kê tại FPl
- Bằng chứng từ Bayesian t-test cho việc không có hiệu ứng này ở nhóm lo âu cao ở mức trung bình: BF01 = 4.2
- Sau hiệu chỉnh voxel trên toàn bộ frontal cortex, không có tương tác group × neural congruency tại FPl
- Trong quá trình kiểm soát hành vi cảm xúc, người tham gia lo âu cao có hoạt động thần kinh ở BA area 8B / area 9 / area 46D, tức các vùng phía dlPFC, mạnh hơn người không lo âu trong so sánh incongruent versus congruent trial
- Tọa độ: [24 30 34]
- Kết quả này đã qua hiệu chỉnh multiple comparisons cho voxel trên toàn bộ frontal lobe
- Mối quan hệ giữa điểm lo âu và neural congruency effect cũng ủng hộ việc giảm phụ thuộc vào FPl
- Trên toàn bộ hai nhóm, người có điểm lo âu cao hơn cho thấy FPl neural congruency effect giảm: max z = 4.24, p = 0.0004, tọa độ [40 56 −4]
- Người huy động FPl ít nhất lại phụ thuộc nhiều hơn vào dlPFC: ρ(91) = −0.22, r = 0.038
MRS: tăng tính hưng phấn ở FPl của nhóm lo âu cao
- MRS được thực hiện tại right FPl, left SMC và left occipital lobe
- right FPl và left SMC được chọn là các vùng hỗ trợ thực thi điều hòa cảm xúc
- left occipital lobe được dùng làm vùng đối chứng
- Nghiên cứu ước tính GABA và Glx, dùng Glx như chỉ dấu thay thế cho mức glutamate để tính tỷ lệ GABA/Glx
- Tỷ lệ GABA/Glx ở FPl của nhóm lo âu cao thấp hơn nhóm không lo âu, được diễn giải là GABA ít hơn so với Glx và do đó FPl có tính hưng phấn cao hơn
- FPl: t(88) = 2.3, p = 0.02
- Không có khác biệt tương tự ở SMC và occipital cortex: cả hai đều t < 1.3, p > 0.19
- Khác biệt GABA/Glx là một mẫu hình đặc hiệu về mặt giải phẫu tại FPl chứ không phải thay đổi tính hưng phấn trên toàn não
- Mối quan hệ giữa tỷ lệ GABA/Glx ở FPl và chỉ số hành vi khác nhau theo nhóm
- Tương tác 3 chiều giữa behavioral congruency, group và FPl GABA/Glx ratio: b = 0.19, CI [0.1, 0.28]
- Ở người không lo âu, FPl càng hưng phấn thì kiểm soát hành vi cảm xúc càng tốt: ρ(38) = 0.47, p = 0.0025
- Ở người lo âu cao, mối quan hệ diễn ra theo chiều ngược lại: ρ(48) = −0.29, p = 0.036
- Tương quan ở nhóm lo âu cao không vượt qua hiệu chỉnh multiple comparisons cho 3 voxel MRS
- Không xác nhận được tác động riêng lẻ của GABA hoặc Glx
- Không có khác biệt nhóm ở FPl GABA/Cr: t(89) = 1.14, p = 0.25
- Không có khác biệt nhóm ở FPl Glx/Cr: t(89) = 0.29, p = 0.77
- Cũng không có tương quan giữa behavioral congruency effect và FPl GABA/Cr hoặc Glx/Cr
DWI: khác biệt về kết nối cấu trúc amygdala-FPl
- Phân tích DWI định lượng cường độ projection từ amygdala đến frontal cortex thông qua amygdalofugal fiber bundle
- Người tham gia lo âu cao có amygdalofugal projection hướng tới frontal pole mạnh hơn người không lo âu
- t(90) = 3.3, p = 0.0014
- Trên cả hai nhóm, mức lo âu tương quan dương với kết nối amygdalofugal-FPl
- Khác biệt giữa các nhóm bị giới hạn về mặt giải phẫu ở FPl và area 46
- area 46: t(90) = 3.0, p = 0.0027
- Không mở rộng sang các projection hướng tới medial prefrontal cortex, medial frontal pole, BA 24, BA 25: tất cả đều t < 1.08, p > 0.28
- Mối quan hệ giữa giải phẫu amygdalofugal và chỉ số kiểm soát cảm xúc hành vi cũng khác nhau giữa hai nhóm
- Tương tác 3 chiều giữa behavioral congruency, group và DWI: b = 0.14, CI [0.02, 0.26]
- Ở nhóm không lo âu, cường độ projection đến FPl có quan hệ dương với behavioral congruency effect: ρ(39) = 0.27, p = 0.04, one-sided test
- Ở người tham gia lo âu cao, emotional-action control không liên quan đến cường độ projection đến FPl: ρ(49) = −0.22, p = 0.12
Khả năng bù trừ của dlPFC và diễn giải mạch
- Có tương quan dương giữa dorsolateral prefrontal neural congruency effect và amygdalofugal projection hướng tới FPl
- ρ(90) = 0.29, p = 0.005
- Người nhận nhiều projection từ amygdala đến FPl hơn cho thấy neural congruency effect mạnh hơn ở dlPFC
- Một số quan hệ trực tiếp không xuất hiện
- Không có quan hệ giữa FPl GABA/Glx ratio và cường độ dlPFC neural congruency effect: ρ(89) = −0.15, p = 0.15
- Cũng không có tương quan trực tiếp giữa amygdalofugal connectivity và FPl excitability: ρ(88) = 0.0, p = 0.99
- Ở nhóm lo âu cao, neural congruency effect tại các vùng phụ thuộc mạnh hơn vào amygdalofugal connection cũng tương quan với FPl neural excitability
- ρ(88) = −0.27, p = 0.0095
- Người có FPl excitability cao hơn cho thấy nhiều hoạt động bù trừ hơn ở medial và dorsolateral frontal cortices
- Chỉ với thách thức điều hòa cảm xúc nhẹ, vẫn đã xuất hiện sự chuyển dịch FPl → dlPFC trong khi hiệu năng hành vi được giữ nguyên
- Với thách thức mạnh hơn, mức chuyển dịch ở cấp độ mạch tương tự có thể không đủ để hỗ trợ kiểm soát cảm xúc
- FPl có thể đóng vai trò kết hợp thông tin cảm xúc với các quy tắc ngữ cảnh để điều chỉnh linh hoạt chiến lược kiểm soát cảm xúc, trong khi dlPFC có thể không vượt quá việc duy trì quy tắc nhiệm vụ đơn thuần
Hạn chế, khả năng can thiệp và công bố dữ liệu
- Việc nhóm không lo âu chỉ gồm người tham gia nam là một hạn chế
- Các nghiên cứu chỉ trên nam và chỉ trên nữ dùng AA task đều cho thấy có huy động FPl
- Một nghiên cứu mẫu hỗn hợp lớn không tìm thấy khác biệt về FPl engagement giữa người tham gia nam và nữ
- Các nghiên cứu sau có thể kiểm định nghiêm ngặt hơn tác động tiềm tàng của khác biệt giới tính lên amygdalofugal connectivity và FPl neural excitability
- Các tương quan não-hành vi với cỡ mẫu nhỏ có thể gặp vấn đề ước lượng quá mức kích thước hiệu ứng
- Nghiên cứu này trình bày hơn 550 trial trong 2 phiên cho mỗi người tham gia để tăng tỷ lệ tín hiệu trên nhiễu trong từng cá nhân
- Phân tích tập trung vào mạch trung tâm quanh FPl vốn thường xuyên được liên hệ với kiểm soát hành vi cảm xúc
- Sự gia tăng tính hưng phấn ở FPl của người tham gia lo âu cao thu hẹp phạm vi các khả năng can thiệp phòng ngừa và điều trị
- Ở người khỏe mạnh, tăng ức chế FPl bằng transcranial magnetic stimulation có thể làm suy giảm kiểm soát hành vi cảm xúc
- Cùng thao tác đó ở người lo âu có thể phục hồi khả năng kiểm soát
- Kích thích điện nhắm vào theta-gamma coupling giữa FPl và SMC cũng được nêu như một ví dụ khả thi
- Dữ liệu và mã nguồn được lưu trong Donders data repository
- access code:
di.dccn.DSC_3023010.01_497 - DOI: https://doi.org/10.34973/29k2-7p09
- access code:
- Phân tích và cỡ mẫu của nhóm lo âu cao được preregister trên OSF: https://osf.io/j9s2z/?view_only=5510570459694d619adb5dca4019e9fa
- Phân tích và cỡ mẫu của nhóm không lo âu cũng được preregister trên OSF: https://osf.io/m9bv7/?view_only=18d58e2351b14584b6e688599472534e
1 bình luận
Ý kiến trên Hacker News
Khi mức lo âu tăng lên, có vẻ cơ chế điều tiết cảm xúc thay thế sẽ hoạt động, và xuất hiện các đặc điểm như xu hướng né tránh
Tôi không nhất thiết xem đây là rối loạn chức năng. Nó cũng có thể đi kèm với sự nhạy cảm thúc đẩy việc suy xét thận trọng hơn. Tuy nhiên, nếu ai đó chỉ dùng hai chiến lược là “cứ tiếp tục như trước” và “cố quên rằng mình phải đi theo con đường này”, họ có thể rơi vào một mô thức thoái lui, làm việc khác để né tránh hành động cốt lõi
Vì vậy, hiện tôi vẫn nhìn kết quả này một cách trung lập, và không giả định rằng loại bỏ nó bằng thuốc là cách tốt nhất. Việc chỉ một thử thách cảm xúc nhẹ cũng có thể làm bão hòa phạm vi thần kinh FPl có thể được xem là độ nhạy cao, dễ quá tải giống như khi đặt vôn kế ở mức đo nhạy hơn
Liệu pháp phơi nhiễm là một chiến lược có hệ thống, có chủ đích và lặp lại nhiều lần. Nó có thể là yếu tố thiết yếu để thành công, vì không chỉ đơn giản khiến người ta tham gia trở lại, mà khiến họ tham gia trở lại bằng những hành vi mới và khác đi
Thử thách cảm xúc trong nghiên cứu này là cầm joystick và thỉnh thoảng kéo nó về phía mình khi nhìn thấy một khuôn mặt khó chịu. Điều đó có nghĩa là với người có mức lo âu cao, chỉ chừng ấy cũng đã là một thử thách cảm xúc gây tê liệt, nên trong tình huống thực tế, PFl có khả năng khó nắm quyền kiểm soát
Ở cả người lo âu và người không lo âu, PFl đều có tính hưng phấn rất cao; điều tạo ra khác biệt là mẫu hình hoạt động
Nhận thức là một việc khó nhọc, và thật ra rất khó để sống tốt nếu phải liên tục suy luận trong suốt cuộc đời. Nó giống như lái xe cả đời với tâm thế của một tài xế mới học. Tôi nhớ trong buổi học lái đầu tiên, chỉ cần radio bật lên là tôi còn không thể tập trung
Không có fpi có thể hiểu là trạng thái thiếu trực giác hình thành sau khi đã học lái xe. Khoảng 6 tháng CBT, có hoặc không kết hợp SSRI, là một cái giá nhỏ để lấy lại trực giác
Có một khái niệm thường bị bỏ sót trong diễn ngôn đại chúng về sức khỏe tâm thần. Lo âu như một cảm xúc và lo âu như một rối loạn sức khỏe tâm thần rất khác nhau. Cảm giác buồn và trầm cảm, khó tập trung và ADHD cũng tương tự
Thỉnh thoảng cảm thấy lo âu là bình thường. Nhưng nếu lo âu chi phối quá mức đến mức cản trở các hoạt động hằng ngày, và biểu hiện thành hành vi né tránh rộng khắp như nghiên cứu này nói đến, thì đó là không lành mạnh
Đây đang trở thành một vấn đề lớn trong số những người trẻ tôi gần đây hướng dẫn. Họ thường trải qua giai đoạn xem TikTok hoặc Reddit rồi tin chắc rằng mình mắc ADHD, lo âu, trầm cảm, chỉ vì họ không phải là những robot hoàn hảo có thể mỉm cười mỗi ngày và học nhiều giờ liền
Tôi cứ phải giải thích rằng cảm thấy khó chịu ở một mức độ nào đó khi học hỏi và trưởng thành là điều bình thường và lành mạnh. Kỳ vọng mọi việc trong đời đều diễn ra dễ dàng là không hợp lý
Tất nhiên cũng có những sinh viên thật sự đang chật vật với vấn đề sức khỏe tâm thần, nhưng sau khi làm việc cùng đủ lâu, sự khác biệt giữa một người đã khổ sở vì ADHD cả đời và một người mới biết đến ADHD qua vài video TikTok vài tuần trước rồi nghĩ mình cũng mắc là khá rõ
Nghiên cứu này không nói rằng “loại bỏ bằng thuốc là cách tốt nhất”. Ngược lại, nó nêu rõ rằng ở các bệnh nhân PTSD có đáp ứng, liệu pháp phơi nhiễm dường như phục hồi chức năng vùng cực trán
Trong các thảo luận về sức khỏe tâm thần của văn hóa đại chúng cũng lan rộng giả định rằng thuốc mạnh là phản ứng mặc định. Tất cả nhân viên y tế mà tôi biết đều ưu tiên can thiệp lối sống và các phương pháp trị liệu hơn là kê thuốc, nhưng nhiều bệnh nhân đến khám khi đã tin chắc rằng mình cần thuốc. Khi được khuyến nghị trị liệu hoặc can thiệp lối sống, họ còn tức giận vì cho rằng vấn đề của mình bị xem nhẹ
Tôi nhìn chung đồng ý rằng không nên thấy kết quả này rồi lập tức tìm đến thuốc. Chính vì kiểu đó mà văn hóa đại chúng đã hình thành niềm tin rằng trầm cảm là do mất cân bằng hóa học. Thực tế không phải vậy
Sẽ rất tốt nếu có thể sử dụng phát hiện này cùng với liệu pháp tập trung vào khả năng tự thay đổi tâm trí của chính mình
Rốt cuộc có lẽ lúc nào cũng là nỗi sợ
Sợ tiếp cận người khác, sợ nhờ giúp đỡ, sợ đối phương phản ứng theo cách tệ nhất hoặc điều gì đó thật sự xấu xảy ra
Nhưng thực tế không diễn ra như những gì ta tưởng tượng. Hiện thực khác 100% với tưởng tượng, nhưng nhiều người cứ quên điều đó
Những cơ hội tốt tôi có được đến nay đều xuất hiện khi tôi bước ra khỏi vùng an toàn và tránh việc né tránh tình huống
Lo âu là một cơ chế phòng vệ hữu ích, nhưng cần nhớ rằng trong 99% trường hợp thì không phải vậy
Nỗi sợ trong tương tác xã hội về cơ bản xuất phát từ việc tôi sợ mình làm sai điều gì đó, đối phương phản ứng tiêu cực, rồi tôi cảm thấy tệ về bản thân
Nhưng công thức này bị hỏng. Vì nó đặt cảm giác tốt hay xấu của tôi phụ thuộc vào phản ứng của người khác, thứ tôi không thể kiểm soát
Thay vào đó, tôi cố đánh giá cảm xúc dựa trên ý định của mình, và xem phản ứng của người khác như một vòng phản hồi để giúp hành động của tôi khớp hơn với ý định. Khó đấy, nhưng có vẻ đang dần có tác dụng
Trời đã muộn và tôi mệt nên do dự không bấm nút bắt đầu, rồi nhận ra rằng bấm nút phát còn khó hơn việc thật sự tập theo buổi học
Tôi đã tập thể dục hàng nghìn lần và chưa từng hối tiếc lần nào, vậy mà lần nào cũng có một cuộc thương lượng để khỏi phải tập. Điều này liên hệ với câu rằng hiện thực khác 100% với tưởng tượng
Gần như mọi thứ đều là chiến lược đối phó với nỗi sợ; có cái mang tính xây dựng, có cái mang tính phá hoại. Một số người có nhiều chiến lược mang tính xây dựng hơn, người khác lại có nhiều chiến lược phá hoại hơn
Muốn kiểm soát ở mức nào đó thì cần chánh niệm. Cần luyện tập nhận ra nỗi sợ khi nó xuất hiện, và cũng nhận ra phản ứng theo thói quen của mình. Nếu cảm thấy phản ứng đó không mang tính xây dựng, thì cần luyện tập phản ứng theo cách khác
Điểm mấu chốt là ngay tại khoảnh khắc đó, điều ấy không có tác dụng. Nó giống như bảo một người mắc ADHD rằng cứ tập trung đi
Theo cách tôi hiểu, người hay lo âu thì vì quá lo nên vùng não vốn xử lý lo âu bị quá tải, và não phải xử lý vòng qua vùng khác; nhưng vùng đó không phù hợp để đảm nhiệm việc này nên mới nảy sinh vấn đề
Vì vậy điểm mấu chốt là giảm quá tải ở vùng xử lý lo âu, và có lẽ là theo hướng làm điều mình sợ để không còn sợ nữa
Có thể tôi sai, nhưng tôi hiểu như vậy
Nó hoàn toàn có thể phản tác dụng. Lặp lại cùng một việc có thể khiến lo âu tăng lên. Nếu chọn con đường này, “việc” đó phải được đưa vào cực kỳ từ từ, trong trạng thái an toàn
Lấy ví dụ chứng sợ nhện, có thể bắt đầu kiểu như: “hãy vẽ một chấm. Từ chấm đó vẽ một đường. Tăng dần lên tám đường. Cảm nhận mức độ lo âu, rồi tự nhắc rằng đây không phải nhện thật mà chỉ là hình vẽ, bạn đang kiểm soát và an toàn”
Sau đó chuyển sang ảnh nhện hoạt hình, ảnh nhện thật trông dễ thương nhất, v.v. Đây là quá trình mất vài tháng và cũng không bảo đảm thành công. Chỉ riêng mô tả nhện thật sinh động thôi cũng có thể quá sức chịu đựng, dù tiếp cận từ từ
Ngược lại, nếu nói “nhắm mắt và xòe tay ra nào. Đây, tôi đặt một con tarantula lên tay bạn rồi. Có gì đâu nhỉ?” thì người đó có lẽ sẽ sợ nhện cả đời
Lý do nó hiệu quả với người này nhưng làm người khác tệ hơn nằm ở cách tiếp cận
Theo kinh nghiệm của tôi, những tình huống đối mặt như vậy phải ở mức không quá dễ cũng không quá khó. Cứ ném người ta vào tình huống họ không chịu nổi thì hầu như chẳng giúp gì
Tôi nghĩ cách đúng là tiếp cận dần dần thông qua những thành công nhỏ. Cần tập trung vào việc tránh các kiểu né tránh đã học được. Đồng thời cũng phải có khả năng chấp nhận những thắng lợi nhỏ và xem đó là cải thiện
Nhưng tất cả những điều này nói thì dễ hơn làm, đặc biệt khó nếu phải tự mình gánh
Vì vậy về mặt kỹ thuật thì đúng, nhưng rất dễ bị hiểu nhầm thành “cứ mạnh mẽ lên”. Tôi không nói ý bạn là vậy, nhưng có những bước trung gian mà nhiều người không biết
Ở người lo âu, FPI không thể ghi đè hành vi né tránh
Điểm mấu chốt không phải là hạn chế quá tải. Ở đó không có nhiều lựa chọn. Mà là dùng các cơ chế khác để tìm kiếm sự tiếp xúc và không tiếp tục né tránh
CBT là liệu pháp dạy những kỹ năng như vậy, còn bài báo đề cập đến TMS
Lo âu của tôi nếu cố xử lý một cách có ý thức thì sẽ nặng lên thành cơn hoảng loạn. Những thứ như tự đối thoại, nghiền ngẫm, né tránh
Nhưng nếu không can dự có ý thức và cứ để mặc, nó sẽ đi vào trạng thái ngủ yên
Một nghiên cứu thú vị
Tóm tắt cho những ai chưa đọc: não của người lo âu dùng các vùng khác khi điều tiết cảm xúc. Vấn đề là trong trạng thái cảm xúc mạnh, các kết nối tới vùng này có thể dễ bão hòa hơn
Nói cách khác, một bộ não bị căng thẳng hoặc lo âu quá mức có vẻ có thiết lập định tuyến khác với người khác. Đây là phát hiện rất thú vị
Nó rất khớp với những gì có thể thấy ở người lo âu, đặc biệt là người đồng thời bị trầm cảm
Tuy nhiên trọng tâm của bài báo hẳn nằm ở các chi tiết sinh học tinh vi mà họ phát hiện, còn phần đó thì thú thật tôi hoàn toàn không hiểu
Tôi thắc mắc liệu FPl quá hoạt động nên cần làm chậm lại như bài báo đề xuất, hay là hạch hạnh nhân đang chặn FPl bằng tín hiệu quá mức nên cần làm chậm hạch hạnh nhân
Nếu bạn bị lo âu nặng, tôi rất khuyên nên chăm lo các vấn đề sức khỏe mình đang có. Đặc biệt hạ đường huyết được biết là làm tăng adrenaline trong cơ thể và thúc đẩy lo âu
Trước đây tôi từng lo âu rất nặng, nhưng khi sức khỏe thể chất tốt hơn thì nó giảm đi rất nhiều
Tuy nhiên, n=1 và đây là “bằng chứng giai thoại”, kèm tất cả những lời rào đón thông thường mà người lạ trên Internet thường tuyệt vọng gắn vào như thể tôi đang tuyên bố đây là kết quả của một nghiên cứu quy mô lớn
Vấn đề sức khỏe có thể làm các vấn đề tâm lý nặng hơn, trực tiếp hoặc gián tiếp, thậm chí có thể là nguyên nhân trực tiếp. Chiều ngược lại cũng vậy
Tuy nhiên, những người có vấn đề sức khỏe thường mệt mỏi vì bị nhồi nhét cùng một lời khuyên quá lâu, quá thường xuyên. Điều này đặc biệt đúng khi người đưa lời khuyên không hiểu vấn đề sức khỏe của họ. Ở đây thì khác, vì bạn viết trung lập theo kiểu “điều này đã giúp tôi”
Ví dụ, có trường hợp một người bị trầm cảm lâm sàng nặng đến mức gần tự sát, thậm chí không để ý đến cơn đói nên ăn uống cũng khó, lại phải nghe lần thứ một nghìn câu “cứ tập thể dục đi, sẽ có ích đấy”
Cũng có trường hợp người bị say khi chơi một trò chơi cụ thể cứ bị lặp lại những lời khuyên họ đã thử hết từ nhiều năm trước, rồi bị bảo “tuyệt đối không nên chơi VR”. Thực tế họ đã thử VR, và tùy tựa game, nếu chuyển động được xử lý bằng theo dõi chuyển động thì có thể không sao
Cũng có trường hợp một người phải bỏ dở chương trình thạc sĩ vì trầm cảm và lo âu nặng, lại nghe từ một người chỉ từng trải qua giai đoạn trầm nhẹ do làm việc quá sức rằng “tôi làm được thì lẽ ra bạn cũng làm được”
Cũng có những người từng thiếu vitamin D, hễ gặp người đang đau ốm là khăng khăng bảo họ uống bổ sung vitamin D. Họ xem cả những vấn đề tâm lý do sang chấn gây ra cũng đều như thiếu vitamin D
Tôi đánh giá cao bài viết ở đây. Vì nó theo kiểu “điều này đã giúp tôi, sửa các vấn đề sức khỏe có thể giúp ích, và nếu có vẻ phù hợp thì đáng thử”, chứ không phải “vì nó hiệu quả với tôi nên chắc chắn cũng hiệu quả với bạn”. Dù vậy ranh giới giữa hai cách diễn đạt rất mỏng, và cũng là vấn đề sắc thái thường biến mất trong văn viết
Nhưng khi ở trong hoàn cảnh đó thì không dễ. Cần có kỷ luật bản thân
Chứng sợ khoảng rộng của tôi khá nặng. Tôi đã dành rất nhiều thời gian để thử tiếp xúc dần, nhưng khi một cơn hoảng loạn lớn ập đến thì không thể truy cập được thùy trán để xử lý một cách lý trí
Trong khoảnh khắc đó, tôi cảm nhận sự bao la của vũ trụ, và như có điện chạy trong cơ thể. Cuối cùng, dù đã đến được nơi “an toàn”, tôi vẫn không thể suy nghĩ hay ngủ cho ra hồn trong nhiều tháng
Vì vậy thôi thúc tránh né những cảm xúc như thế là rất mạnh. Một ngày nào đó tôi sẽ lại thúc mình tiếp, nhưng phần thưởng so với rủi ro khá tệ. Cảm ơn nhé, hệ dây thần kinh của não
Điều tôi tò mò là: tôi hiểu việc nói rằng trong lúc phơi nhiễm thì không thể truy cập thùy trán, nhưng sau khi phơi nhiễm, bạn có dành thời gian nhìn lại và tự nhắc mình rằng thực ra không có chuyện xấu nào xảy ra không
Rèn luyện thùy trán sau khi phơi nhiễm có thể giúp học cách đối phó với tình huống đó trong tương lai. Ít nhất với lo âu xã hội thì tôi đã làm vậy và có vẻ có ích
Tài liệu tham khảo:
https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC4820039/
https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC4818733/
Chẳng hạn rối loạn lo âu lan tỏa, rối loạn nhân cách tránh né, chứng lo âu về sức khỏe. Có vẻ không nên mất vài tháng mới hồi phục sau một cơn hoảng loạn
Khoan đã, vậy giờ tôi cũng mắc chứng sợ khoảng rộng sao?
Tôi cứ tưởng mình vẫn phải tránh không gian trong nhà và đám đông vì một căn bệnh rất dễ lây lan đang lan khắp thế giới. Giờ tôi phải thấy thoải mái khi lại chia sẻ không khí với người khác à?
Các tác giả hoặc những người quan tâm đến lo âu có thể sẽ quan tâm đến bài báo của tôi, Dreaming Is the Inverse of Anxious Mind-Wandering
https://psyarxiv.com/k6trz
Đây là bài tôi viết và cũng từng được thảo luận trên HN
https://news.ycombinator.com/item?id=19143590
Có thể đưa ra một lập luận nhất quán rằng lo âu đặt sai chỗ là một vấn đề rất phổ biến và nền tảng trong toàn bộ loài người, và giấc mơ là một cơ chế tích hợp sẵn để chẩn đoán điều đó
Tóm tắt bài báo như sau. Trạng thái lo âu liên quan đến mạng mặc định, tức mạng “tưởng tượng”, chất dẫn truyền thần kinh chiến-hay-chạy cấp cao norepinephrine, và hạch hạnh nhân được kích hoạt
Trạng thái mơ REM liên quan đến mạng mặc định, tức mạng “tưởng tượng”, mức norepinephrine rất thấp, thấp hơn mức nền 80%, và đáng ngạc nhiên là hạch hạnh nhân không hoạt động
Nội dung giấc mơ có thể được xem như mặt đối lập của sự lang thang tâm trí đầy lo âu. Tình huống chúng ta ở trong đó thực ra khuyến khích hành vi đối mặt, nhưng ta có thể quan sát hành vi né tránh của mình rõ ràng hơn so với khi thức
Điều này cũng có nghĩa là cấu trúc của lo âu không gắn chặt lắm với trạng thái thần kinh. Vì ngay cả khi mức norepinephrine thấp, nó dường như vẫn đi theo các mô thức lo âu, nên cấu trúc trong não biểu hiện điều này phải nằm ở nơi không bị ảnh hưởng bởi thứ biến động mạnh như mức norepinephrine
Nghiên cứu hay. Sẽ tốt nếu thực hiện cùng thí nghiệm và phân tích này trên nhóm từng được chẩn đoán rối loạn lo âu rồi đã hồi phục, tốt nhất là nhóm hồi phục chỉ nhờ CBT hoặc các phương pháp không dùng thuốc khác, và trên nhóm khỏe mạnh
Sẽ thú vị khi xem trị liệu ảnh hưởng thế nào đến cơ chế này, liệu FPI có tính kích thích cao hơn có tiếp tục được kích hoạt ở nhóm đã hồi phục hay không, hay tính kích thích giảm xuống, hoặc liệu kích hoạt hạch hạnh nhân có lại là nguyên nhân gốc rễ hay không
Cũng đáng chú ý là ngay cả trong số người khỏe mạnh cũng có những người có tính kích thích FPI cao nhưng không lo âu
Tôi tự hỏi liệu sự dịch chuyển vùng xử lý này có phải là nền tảng của cảm giác tách rời hay giải thể nhân cách thường thấy ở mức lo âu cao không, tức cảm giác như đang ở chế độ tự động lái hoặc như mình không phải là mình
Ngôn ngữ của bài này khó đọc và khó hiểu
Có rõ là lo âu cao dẫn đến kiểu định tuyến khác này, hay một sự kiện nào đó trong quá khứ tạo ra kiểu định tuyến này và kết quả là sinh ra lo âu cao không?
Và sau khi khác biệt định tuyến này xuất hiện, có dấu hiệu nào cho thấy việc tiếp xúc với tình huống đáng sợ vẫn làm giảm lo âu không?
Cả né tránh lẫn thành công trong tình huống gây lo âu đều đem lại cảm giác nhẹ nhõm. Hầu hết mọi người đã trải nghiệm đủ cả hai, nên phản ứng về sau được cân bằng