3 điểm bởi GN⁺ 2025-10-16 | 1 bình luận | Chia sẻ qua WhatsApp
  • 10 năm gần đây là giai đoạn thụt lùi lớn nhất trong lịch sử giáo dục Mỹ, khi những thành tựu tích lũy suốt nhiều thập kỷ đang bị đảo ngược
  • Sự phổ biến của smartphone, suy giảm học lực đã bắt đầu từ trước đại dịch, và sâu xa hơn là văn hóa kỳ vọng thấp được chỉ ra là các nguyên nhân chính
  • Khoảng cách thành tích học tập ngày càng nới rộng khi nhóm học sinh giỏi vẫn giữ được phong độ, trong khi nhóm học sinh yếu tụt lùi mạnh
  • Phân tích cho thấy vấn đề không chỉ nằm ở thiếu ngân sách, mà còn ở việc nới lỏng chuẩn học thuật và lạm phát điểm số làm suy yếu động lực học tập của học sinh
  • Ngược lại, sự cải thiện thành tích ở các bang miền Nam như Mississippi và Louisiana cho thấy việc kết hợp tiêu chuẩn cao với hỗ trợ có hệ thống là hiệu quả

“Thập kỷ bị đánh mất” của giáo dục Mỹ

  • Đà tăng điểm toán và đọc hiểu của học sinh Mỹ kéo dài đến đầu thập niên 2010 đã chững lại mạnh từ năm 2013 rồi đảo chiều đi xuống
    • Theo NAEP (Đánh giá Tiến bộ Giáo dục Quốc gia), 33% học sinh lớp 8 ở mức “dưới cơ bản”, thấp nhất kể từ năm 1992
    • 40% học sinh lớp 4 cũng ở mức đọc hiểu “dưới cơ bản”, mức tệ nhất kể từ năm 2000
    • Điểm ACT trung bình năm 2024 là 19.4, thấp nhất kể từ lần cải tổ kỳ thi năm 1990
  • Sự suy giảm học lực không diễn ra đồng đều ở mọi học sinh; nhóm học sinh giỏi vẫn giữ được thành tích, trong khi nhóm 10% thấp nhất tụt lùi về mức của thập niên 1970
  • Tốc độ gia tăng bất bình đẳng diễn ra nhanh hơn nhiều so với các nước phát triển khác

Không chỉ là “vấn đề ngân sách” mà là thất bại mang tính cấu trúc

  • Trong giai đoạn 2012–2022, chi tiêu giáo dục trên mỗi học sinh đã tăng từ 14.000 USD lên hơn 16.000 USD
  • Trong thời kỳ đại dịch, Quốc hội Mỹ đã rót 190 tỷ USD tiền cứu trợ, nhưng do chi tiêu kém hiệu quả như thay HVAC, mua xe buýt điện, nên gần như không tạo ra hiệu quả thực chất trong việc phục hồi học tập
  • Các chuyên gia đánh giá rằng “phần lớn ngân sách đã bị lãng phí

Tác động của smartphone

  • Theo lập luận của Jonathan Haidt, việc smartphone trở nên phổ biến gắn liền với suy giảm học lực và sự gia tăng lo âu, trầm cảm
    • Tỷ lệ thanh thiếu niên sở hữu smartphone đã tăng vọt từ 23% năm 2011 lên 95% vào năm 2018
    • Việc dùng smartphone làm giảm khả năng tập trung, sáng tạo và cản trở việc học
  • Tuy nhiên, việc điểm số giảm cả ở học sinh tiểu học cho thấy không thể chỉ giải thích bằng smartphone
    • Những học sinh có khả năng tự điều chỉnh cao dường như bị ảnh hưởng ít hơn

Lý thuyết “kỳ vọng thấp”

  • Cách lý giải ở đây là mức độ yêu cầu đặt ra cho học sinh giảm xuống thì thành tích cũng giảm theo
  • Chính sách No Child Left Behind đầu những năm 2000 đã thúc đẩy cải thiện thành tích nhờ các tiêu chuẩn kiểm tra nghiêm ngặt, nhưng
    • sau đó, với Every Student Succeeds Act năm 2015, quyền tự chủ được giao cho từng bang, khiến mức độ đánh giá bị nới lỏng
  • Lạm phát điểm số tăng tốc
    • Phân tích của ACT: tỷ lệ điểm A môn tiếng Anh tăng từ 48% năm 2012 lên 56% năm 2022, trong khi thành tích học tập thực tế lại giảm
    • Tỷ lệ tốt nghiệp trung học cũng tăng từ 80% lên 87%, nhưng chất lượng học lực vẫn tiếp tục đi xuống
  • Khi “đánh giá công bằng” (equitable grading) lan rộng, việc phạt đi học muộn, nghỉ học và giới hạn thi lại biến mất, làm suy yếu trách nhiệm học tập

Sự đảo chiều ở các bang miền Nam — “phép màu Mississippi”

  • Các bang miền Nam như Mississippi và Louisiana lại ghi nhận thành tích tăng lên
    • Năm 2013, Mississippi đứng cuối về đọc hiểu, nhưng đến năm 2024 đã vươn lên nhóm cao nhất cả nước
    • Nguyên nhân là tiêu chuẩn cao + hỗ trợ có hệ thống:
      • Bắt buộc vượt qua bài kiểm tra đọc hiểu trước khi được lên lớp 4
      • Đào tạo giáo viên, bố trí huấn luyện viên về kỹ năng đọc viết, tăng cường dạy đọc dựa trên ngữ âm (phonics)
  • Dù mức thu nhập thấp, thành tích học sinh đã vượt qua các bang giàu có hơn, hiện tượng này được gọi là “Southern Surge”
  • Trong khi đó, các bang do Đảng Dân chủ lãnh đạo vẫn bám vào các phương pháp giáo dục thiếu cơ sở khoa học, nên tốc độ thay đổi chậm

Hàm ý chính trị và tổn thất kinh tế

  • Sự sa sút giáo dục đã gây ra chi phí kinh tế khổng lồ, tương đương GDP giảm 6% và thu nhập trọn đời mất 7,7%
  • Trong khi các cải cách do phe Cộng hòa dẫn dắt cho thấy hiệu quả, thì cách tiếp cận đặt trọng tâm vào công đoàn giáo viên của phe Dân chủ đang bị chỉ trích
  • Các chính sách dựa trên thực chứng như trả lương giáo viên theo hiệu quảmở rộng charter school đã góp phần giảm bất bình đẳng, nhưng
    • phe cấp tiến vẫn tiếp tục phản đối
  • Cũng có quan điểm lạc quan cho rằng AI sẽ giúp thu hẹp khoảng cách giáo dục, nhưng
    • nhà kinh tế học Hanushek cảnh báo rằng “công nghệ sẽ vận hành theo hướng có lợi hơn cho người có kỹ năng cao”

“Quốc gia lâm nguy” lại hiện lên

  • Báo cáo năm 1983 「A Nation at Risk」 từng cảnh báo về một “làn sóng tầm thường”, và giờ điều đó lại quay trở lại
  • Trong bối cảnh cạnh tranh công nghệ Mỹ - Trung, sự sụp đổ của năng lực giáo dục khoa học - kỹ thuật được xem là mối đe dọa nền tảng đối với năng lực cạnh tranh quốc gia
  • Lợi thế trước đây của Mỹ dựa trên nguồn nhân tài nhập cư và hệ thống đại học nghiên cứu, nhưng
    • các chính sách hạn chế visa của chính quyền gần đây đang cản trở dòng nhân tài toàn cầu
  • Nỗi lo rằng với mặt bằng giáo dục hiện tại, thế hệ tiếp theo sẽ khó gánh vác được nền kinh tế đang ngày càng lớn

1 bình luận

 
GN⁺ 2025-10-16
Ý kiến trên Hacker News
  • Gần đây tôi có cảm giác tình hình đang phần nào đảo chiều trong nhóm trẻ em thuộc các gia đình giàu có. "Sold a Story" đã tạo ảnh hưởng lớn trong giới giáo dục. Học khu ở chỗ tôi đã đưa dạy phonics trở lại trong năm học 2023-2024, bắt đầu từ mẫu giáo. Tất cả bạn cùng lớp của con tôi đều đã biết đọc vào cuối năm mẫu giáo. Giờ các cháu đang học lớp 2 và mê đọc sách đến mức tôi thường thấy chúng vừa đi vừa dí sách trước mặt trong giờ trông trẻ sau giờ học. Các cháu này vẫn chưa thi các bài kiểm tra chuẩn hóa nên chưa thể hiện qua điểm số; khoảng 2 năm nữa mới thi lần đầu. Nhà trường và phụ huynh cũng đang cấm điện thoại và giảm dùng máy tính nên tôi hy vọng mức độ xao nhãng sẽ giảm. Nhưng khoảng cách kinh tế xã hội được nhắc trong bài vẫn rất đáng lo. Tôi không nghĩ trẻ em thuộc 30% dưới cùng ở Mỹ sẽ có trải nghiệm như vậy. Đồng thời, các gia đình trung lưu gần như đã ngừng sinh con, nên giờ chỉ còn 20% trên cùng và 30% dưới cùng hiện rõ, còn phần ở giữa thì hầu như không còn. Nếu xu hướng này kéo dài thêm vài thế hệ, Mỹ có thể trở thành một xã hội kiểu trung cổ bị chia đôi giữa tầng lớp quý tộc được giáo dục và nông nô mù chữ.
    • Tôi nghĩ Mỹ đã có kiểu phân cực đó từ lâu rồi. Việc phân chia học khu theo thuế tài sản ở Mỹ đã tạo ra chính cấu trúc này. Trường ở khu giàu có thu được nhiều thuế hơn nên chất lượng cao hơn, và vai trò của phụ huynh cũng được coi trọng hơn. Con tôi học lớp 4 phải viết báo cáo chi tiết về 3 cuốn sách hơn 200 trang, rồi còn học cách trình bày kết quả trong thời gian giới hạn. Việc đánh giá cũng được thực hiện không chính thức bằng các rubric rất chi tiết. Nếu giỏi toán thì được học vượt lớp, nên học sinh lớp 4 có thể học toán lớp 5 hoặc lớp 6. Ở học khu trước đây nơi tôi từng sống, giáo viên rất tử tế nhưng không có đủ dư địa để thử thách học sinh hay nâng năng lực của các em lên, vì họ phải tập trung đưa mọi học sinh lên mức chuẩn tối thiểu.
    • Đọc bài là thấy ngay, trẻ em giàu có chưa từng bị sụt thành tích ngay từ đầu. Nhóm 10% trên cùng vẫn đang làm tốt như trước.
    • Giờ đây, thay vì phonics, nghiện màn hình mới là kẻ thù thực sự đang giết chết khả năng tập trung và động lực học tập.
    • Người ta nói tình hình thậm chí còn tốt hơn với con cái nhà giàu, nên tôi tự hỏi liệu chúng có thực sự từng gặp khó khăn hay chưa. Bài viết nói rằng học sinh thuộc 10% trên cùng vẫn đạt kết quả tương tự trước đây, trong khi học sinh nhóm dưới lại đang kém đi.
    • Nước Mỹ đâu chỉ có trẻ em giàu có.
  • Vài tuần trước tôi đã thấy một bài trên HN về chủ đề tương tự, với góc nhìn giống bài này: Illiteracy Is a Policy Choice. Một số bang thực sự đang cho thấy sự cải thiện, vì họ áp dụng chính sách yêu cầu học sinh đạt một mức chuẩn nhất định và nếu không vượt qua thì không được lên lớp.
    • "Đằng sau sự cải thiện kết quả này là một nền tảng chính sách rõ ràng: phải đặt ra tiêu chuẩn cao và cung cấp cho trường học đủ nguồn lực để đạt được các tiêu chuẩn đó." Nguồn lực ở đây không phải là iPad hay phần mềm, mà là giáo viên, và là giáo viên 'giỏi'. Gần đây lực lượng giáo viên suy giảm nghiêm trọng, và những người rời đi thường là những người có năng lực, chuyển sang ngành khác. Chỉ nâng chuẩn mà không có nguồn lực đi kèm thì sẽ không có thay đổi gì. Học sinh cá nhân là những người có ít quyền lựa chọn nhất trong hệ thống. Phụ huynh, học khu, quản trị viên có thể ác cảm với giáo dục khai phóng; doanh nghiệp thì muốn bán các công cụ học tập thử nghiệm; văn hóa bạn bè đồng trang lứa cũng gây ảnh hưởng. Trong tình huống đó, sức mạnh có thể tạo ra thay đổi rốt cuộc vẫn là cảm hứng và động lực từ các nhà giáo dục.
    • Thay vì chia theo lớp, sẽ ra sao nếu ta mô hình hóa các năng lực cần có để tiến lên bằng một đồ thị, rồi xây dựng một hệ thống giáo dục có thể bù đắp động các kỹ năng còn thiếu? Có thể khó với cấu trúc tổ chức truyền thống, nhưng tôi không nghĩ là hoàn toàn bất khả thi. Cách này có thể loại bỏ sự kỳ thị của việc 'lưu ban', và chỉ đánh giá tiến bộ tích lũy mà không cần khái niệm niên khóa.
    • Đây là một lời phê phán cay đắng đối với ý tưởng rằng loại hẳn nhóm có vấn đề ra ngoài cũng có thể được xem là một cách giải quyết vấn đề.
    • Cách này có thể trông như giải quyết được vấn đề trong ngắn hạn, nhưng về dài hạn lại làm tăng khả năng những đứa trẻ bị trì hoãn lên lớp sẽ bỏ học trước khi tốt nghiệp.
    • Một kiểu mỉa mai đậm chất quảng cáo: "Chỉ với một phương pháp đột phá này, bạn có thể tạo ra những sinh viên tốt nghiệp giỏi hơn nhiều."
  • Theo những gì tôi trực tiếp thấy, hiện tượng này không đúng với các gia đình có thu nhập cao nhất ở California. Trẻ em bị thúc ép học từ nhỏ hơn trước rất nhiều. Ví dụ, phần lớn bạn cùng lớp của con tôi đã biết đọc trước khi vào mẫu giáo. Các cháu cũng biết làm số học. Giờ con tôi học lớp 1 mà đa số đã đọc chapter book và hiểu phép nhân. Mẹ tôi ngày xưa cũng rất cố gắng để tôi học vượt bạn bè cùng tuổi, nhưng tôi phải sau đó một năm mới đạt được mức như vậy. Bây giờ vào các trường đại học danh tiếng hàng đầu còn khó hơn nhiều, nên có nhận thức rất mạnh rằng phải vào được đó mới giữ được mức sống hiện tại; vì thế tiêu chuẩn và kỳ vọng đã tăng lên rất nhiều.
    • Có lẽ cách hiểu đúng không phải là mọi đứa trẻ đều đang thiếu các kỹ năng quan trọng, mà là xã hội ngày càng phân cực hơn. Trẻ thông minh thì trước kia học tốt, bây giờ vẫn học tốt, thậm chí còn học nhiều hơn. Trẻ kém thông minh hơn sẽ ngày càng tụt lại phía sau, còn tầng lớp trung gian kiểu 'khá đều nhiều thứ' thì đang biến mất. Mọi lĩnh vực dường như đều bị tách đôi như vậy cùng với sự phân cực cực đoan về của cải.
    • Bài viết cũng nói rằng, “những đứa trẻ có thành tích cao vẫn đang làm tốt như mọi khi, còn học sinh nhóm dưới đang tụt lại rất nhanh”.
    • Tôi thật sự tò mò không biết người ta dạy một đứa trẻ 4 tuổi đọc và làm số học kiểu gì. Ngay cả ở khu giàu tại Nam California tôi cũng chưa từng thấy tận mắt như vậy. Nghe nói con cái các gia đình người Trung Quốc hay Nga làm được, nhưng nhà tôi thì không. Trả 20 nghìn đô mỗi năm cho preschool cũng chẳng giúp được gì.
    • Đây nhìn chung là hiện tượng phổ biến trong các gia đình white-collar.
    • Nhưng tôi cũng tự hỏi tỷ lệ dân số thực sự đạt được chuẩn đó là bao nhiêu. Các gia đình thu nhập cao chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong tổng dân số Mỹ.
  • Bài viết nói khó có thể xem smartphone chỉ là vấn đề của học sinh cấp hai và cấp ba, nhưng tôi nghĩ vấn đề là các bậc cha mẹ có con nhỏ đang dùng smartphone nhiều hơn. Thay vì đọc sách cho con nghe, thời gian dùng màn hình lại tăng lên. Số lượng sách trong nhà có ảnh hưởng rất lớn đến thành tích học tập. Trẻ được tiếp xúc với sách và việc đọc từ nhỏ cho kết quả vượt trội. Hiệu ứng này bắt đầu sớm hơn người ta tưởng và kéo dài rất lâu. Môi trường đọc trong gia đình quan trọng hơn thay đổi chương trình giảng dạy ở trường.
    • Nhưng bản thân hiệu ứng “nhà có nhiều sách” lại là ví dụ kinh điển cho chuyện 'tương quan không đồng nghĩa với quan hệ nhân quả'. Sách giáo khoa AP Psychology hồi cấp ba của tôi cũng có ví dụ này.
  • Tự dưng tôi nhớ tới một câu trong Anathem của Neil Stephenson và thấy hơi rợn người. Đại loại là đoạn đối thoại như: “Anh có đọc được chữ không? Ý tôi không phải là giải mã LogoType...” “Giờ chẳng ai dùng thứ đó nữa.” Cảm giác như đang tiến tới một thế giới mà ngay cả khả năng giải mã ký hiệu cũng biến mất.
    • Tôi cũng nhớ tới A Canticle for Leibowitz của Miller. Stephenson đúng, nhưng Miller có vẻ nắm bắt tốt hơn sự suy giảm năng lực đọc viết, sự lan rộng của ngu dốt, cùng chủ nghĩa tương đối hậu hiện đại và thái độ hoài nghi cho rằng không có chân lý khách quan, tất cả dẫn tới sụp đổ xã hội. Mô tả về việc ngu dốt lên ngôi và tầng lớp thống trị cố tình phát tán sự ngu dốt để phục vụ lợi ích riêng khiến tôi thấy rất thấm. Luận điểm rằng ngay cả một nhóm sợ mù chữ cũng tận dụng 'ngu dốt' như công cụ duy trì quyền lực là điều diễn tả rất đúng tình hình hiện nay.
    • Cảnh Quin trong Anathem nói rằng vì Kinagram (emoji, hình ảnh, v.v.) nên ký tự chữ viết (Logotype) đã trở nên vô dụng, rồi câu hỏi "có thật là biết đọc không?", và câu trả lời kiểu "có thể thì có thể, nhưng vì không dùng nên cũng chẳng buồn làm", cùng những đoạn đối thoại kiểu 'con tôi thì khác' đều rất ấn tượng. Câu chuyện Samman kể về hệ thống "Artificial Inanity" khiến Internet trở nên vô dụng cũng mang lại cảm giác rất thật.
    • Tôi cũng rất thích Mockingbird của Walter Tevis; đó là một tác phẩm dự đoán đáng sợ đến mức chính xác về việc loài người sẵn sàng giao lao động trí óc cho robot nhanh đến mức nào. Câu chuyện về vị hiệu trưởng NYU thế kỷ 25, là robot cấp 9 cuối cùng, thuê một người biết đọc sau 400 năm thật sự rất đáng nhớ (và đây cũng là tác giả viết The Queen's Gambit, The Hustler cùng nhiều tác phẩm hay khác).
    • Cá nhân tôi thấy cuốn đó hơi buồn tẻ và tuyến tình cảm không hay lắm. Nhưng đó lại là một tiểu thuyết ngày càng thường xuyên xuất hiện trong đầu tôi. Tôi từng nghĩ nếu nó được dựng thành phim như Idiocracy thì có lẽ ngay cả người mù chữ cũng sẽ hiểu họ đang bỏ lỡ điều gì.
    • Tôi thấy thú vị ở chỗ cuốn đó (The Diamond Age) cũng xử lý một khái niệm tương tự.
  • Điều làm tôi ngạc nhiên nhất là thế hệ người lớn thiếu năng lực đọc hiểu hình ảnh. Làm nghề biên tập video, tôi rất thường gặp người lớn tuổi không nhận ra cảnh cắt đã thay đổi, hoàn toàn không nhìn thấy hay cảm được lỗi dựng phim. Với giao diện máy tính cũng vậy, tôi phải giải thích cho bố mẹ nhiều lần cách bật phụ đề. Trước khi chỉ trích thế hệ trẻ, tôi nghĩ cần so sánh với thực tế rằng các thế hệ trước cũng thiếu năng lực nhiều hơn chúng ta tưởng rất nhiều.
    • Tôi nhớ hồi HDTV mới ra, kênh SD và HD tách riêng, và bố mẹ tôi cứ cố tình xem hình SD bị kéo giãn. Dù tôi tìm giúp và chỉ cho kênh HD, họ cũng không bận tâm; với họ hình SD bị kéo giãn là đủ rồi.
    • Media literacy là thứ một khi đã học được thì rất dễ quên mất rằng đó là kỹ năng từng phải học. Giờ tôi trải nghiệm mọi thứ theo kiểu vô thức phân tích liên tục. Thấy người khác thậm chí còn không giải mã nổi những thứ truyền thông cơ bản thì lại thấy ngạc nhiên. Tôi thấy lạ khi đa số lại tiêu thụ truyền thông mà không có góc nhìn kiểu "vì sao người sáng tạo lại chọn như vậy? cảnh này đang nhắm tới hiệu ứng gì, và bằng phương tiện nào thì điều đó được tạo ra?"
    • Với tư cách một người "lớn tuổi", tôi xin nói là hồi đi học, góc nhìn phê bình truyền thông hoàn toàn không được coi trọng. Thay vào đó, chúng tôi học cách dùng mục lục thẻ thư viện, phân biệt nguồn sơ cấp và thứ cấp, chỉ mục báo chí, và cách dùng microfiche. Thành thật mà nói, năng lực diễn giải và tạo ra sản phẩm đa phương tiện của các đồng nghiệp trẻ bây giờ thật sự đáng khâm phục. Nhưng cá nhân tôi vẫn nghĩ viết lách giúp mở rộng tư duy hơn video, nên có lẽ tôi sẽ vẫn tiếp tục thích viết hơn. Việc đánh giá độ tin cậy của thông tin giờ khó hơn rất nhiều so với trước đây, vì xác minh sự thật ngày càng khó trong bối cảnh nội dung vô danh, bot, cắt dựng và tuyên truyền. Như bạn nói, tôi đồng ý rằng năng lực đọc và viết mang tính bản chất đối với cách tư duy hơn là khả năng bấm remote.
    • Một số người có thể bẩm sinh không quá nhạy ở vỏ não thị giác. Khi tôi cố tắt motion interpolation (hiệu ứng soap opera), có rất nhiều người không cảm nhận được sự khác biệt.
    • Có những trường hợp mù công nghệ rất nặng bất kể tuổi tác. Tôi hiểu nếu bà cụ 93 tuổi không dùng được máy móc, nhưng thấy người ở độ tuổi 20 không in nổi tài liệu, hay người ở độ tuổi 50 mắc lừa AI spam thì vẫn thấy choáng. Jurassic Park ra từ năm 1993 rồi, chẳng lẽ họ thật sự nghĩ khủng long đang ăn thịt người thật sao?
  • Nhìn vào sự trỗi dậy gần đây của Trung Quốc (như nhà máy không người) và bầu không khí thay đổi chung của xã hội Mỹ, tôi có cảm giác 20-50 năm tới sẽ không mấy sáng sủa.
    • Ở Mỹ, điểm số của trẻ em thấp hơn, nhưng khác với Trung Quốc, tỷ lệ sinh vẫn còn cao hơn. Nghịch lý của trật tự thế giới hiện tại là ảnh hưởng của Mỹ đang giảm đi, nhưng các nước khác lại xấu đi với tốc độ còn dốc hơn. Nhờ tài nguyên dưới lòng đất, dân số và điều kiện địa chính trị, Mỹ có thể chịu đựng khá lâu dù cứ lặp đi lặp lại những thất bại.
    • Có thể là quá lạc quan, nhưng tôi từng nghĩ nếu Trung Quốc hay các nước khác mở cửa kinh tế, việc một phần vốn rời khỏi Mỹ biết đâu lại có lợi về dài hạn. Hiện nay các công ty Mỹ quá mang tính extractive.
  • Đây là đoạn được trích trong bài: “1 trong 4 học sinh hiện được xếp vào diện vắng học kinh niên, nghĩa là nghỉ hơn 10% số ngày học, và đây là mức tăng rõ rệt so với trước đại dịch ... khoảng 40% giáo viên trung học cơ sở làm việc tại các trường không có chính sách phạt nộp bài muộn, chấm 0 điểm cho bài không nộp, hay giới hạn số lần thi lại.” Chỉ riêng điều này thôi cũng đủ giải thích sự sụt giảm điểm số của nhóm dưới. Như câu nói nổi tiếng của Woody Allen, ‘80% của thành công là trước hết phải có mặt’.
  • Muốn viết tốt thì cũng phải đọc tốt. (Khuyên đọc Writes and Writes not của Paul Graham.) “Tôi ngại dự đoán về công nghệ, nhưng có lẽ 20-30 năm nữa sẽ gần như không còn ai biết viết. Viết khó vì về bản chất nó buộc ta phải nghĩ cho rõ, mà nghĩ cho rõ thì thật sự rất khó.” Với tư cách người viết, bạn sẽ nhận ra có rất nhiều người gặp khó khăn với việc viết.
    • Chỉ cần nhìn các cuộc trò chuyện trên mạng xã hội là đủ thấy “khả năng đọc hiểu mạnh” là một tài năng hiếm đến mức nào.
  • Gần đây tôi nhận thấy rất rõ là ở nơi công cộng hay trên phương tiện giao thông công cộng hầu như không còn thấy ai đọc sách. Ngày trước đi máy bay đường dài thì luôn mang theo sách hoặc tạp chí, còn giờ đa số chỉ xem video. Nhìn trên máy bay thì gần như mọi hành khách đều đang xem phim hoặc video trên điện thoại, laptop hay màn hình ở ghế. Việc đọc sách trong quán cà phê giờ cũng hiếm thấy. Ngay cả các báo lớn như NY Times cũng khó kiếm được bản in Chủ nhật, và đa số cửa hàng thậm chí không bán. Bản thân tôi cũng xem nhiều podcast, YT và các nội dung tương tự hơn trước; còn việc đọc sách thật hay essay dài thì không nhiều. Tôi tiêu thụ tin tức chủ yếu qua các bài báo online; tất nhiên rất tiện, nhưng không đòi hỏi nỗ lực như khi tập trung đọc một bài dài. Gần đây tôi còn thỉnh thoảng xem TikTok chỉ vì tò mò và để giải trí, và ở đó chỉ cần ngồi xem các video ngắn một cách vô thức là một tiếng trôi qua lúc nào không hay. Đó là kiểu kích thích tức thời và vô nghĩa nhưng gây nghiện rất mạnh, thậm chí có thể còn nguy hiểm hơn cả porn (porn đến lúc nào đó thì dừng, còn video ngắn thì cứ xem mãi). Tôi cũng lo khi thấy cảnh trẻ 1-2 tuổi mỗi đứa cầm một thiết bị xem video là chuyện quá phổ biến. Nghe nói ngay cả trong các lớp đại học giờ giảng viên cũng không còn giao đọc nguyên cuốn sách nữa, vì họ biết sinh viên rốt cuộc sẽ chỉ đi tìm bản tóm tắt bằng ChatGPT.