1 điểm bởi GN⁺ 2025-05-12 | 1 bình luận | Chia sẻ qua WhatsApp
  • Bí quyết thành công của Bell Labsnhân tài xuất sắcmôi trường nghiên cứu tự do
  • Cách quản lý bảo đảm tính tự chủ và sáng tạo cho các nhà nghiên cứu đã tạo ra thành quả đổi mới
  • Xã hội hiện đại với văn hóa lấy thành tích và chỉ số làm trung tâm cùng khối lượng hành chính quá mức khiến nghiên cứu độc sáng trở nên khó khăn
  • Vai trò người bảo trợ và động lực căn bản của Bell Labs nay đã biến mất
  • Trong tương lai, sự kết hợp giữa tự do, kiên nhẫn và nhân tài ưu tú sẽ là tiêu chuẩn để một tổ chức đổi mới mới tái sinh

Danh tiếng huyền thoại của Bell Labs

  • Bell Labs là biểu tượng của đổi mới khoa học và công nghệ, và nhiều người vẫn đang cố gọi lại câu chuyện thành công ấy từ lịch sử
  • Dù các nỗ lực tái tạo đổi mới diễn ra sôi nổi, trên thực tế nhiều trường hợp lại âm thầm thất bại, khác xa ngọn lửa nhiệt huyết ban đầu
  • Điều đó cho thấy chỉ riêng khát vọng thôi là không đủ để tạo nên đổi mới ở tầm Bell Labs

Môi trường nghiên cứu khác biệt cả về chất lẫn lượng

  • Alexander Graham Bell quan tâm đến rất nhiều lĩnh vực, và sau thành công lớn đầu tiên đã dùng tiền để thành lập Volta Laboratory and Bureau
  • Ông theo đuổi cách quản lý chỉ đưa ra định hướng nghiên cứu rồi trao quyền tự chủ, và triết lý đó sau này trở thành biểu tượng của Bell Labs
  • Mervin Kelly cũng có cùng thái độ như vậy, và trong thập niên 1920~30 đã dồn sức tìm kiếm và chiêu mộ nhân tài
  • Các lãnh đạo của Bell Labs vừa là nhà khoa học vừa là người chế tạo, kiên định với nguyên tắc: "Quản lý thiên tài như thế nào? Đừng quản lý họ."
  • Trong Thế chiến II, dưới sự dẫn dắt của chính các nhà nghiên cứu, những công nghệ cốt lõi như máy tính điện tử, ngư lôi dẫn đường bằng âm thanh, điều chế mã xung... đã được phát triển và đổi mới rất nhanh
  • Kelly trao cho các dự án quyền tự chủ mà không can thiệp tại chỗ, để các nhà nghiên cứu tự tạo động lực bằng đam mê của mình

Những nguyên nhân khiến Bell Labs biến mất

  • Việc giải thể Ma Bell thường được xem là nguyên nhân bề mặt cho sự suy tàn của Bell Labs, nhưng trên thực tế sự xuất hiện của kỷ nguyên thông tin mới là nguyên nhân căn bản
  • Ngay cả các công ty IT hiện đại có nguồn lực tài chính lớn hơn cũng không thể xây dựng được một tổ chức đổi mới như Bell Labs
  • Tại các trường kỹ thuật và viện nghiên cứu, người ta đã phải dành nhiều thời gian hơn cho hành chính và xin quỹ thay vì nghiên cứu
  • Một nền văn hóa đặt nặng chỉ số năng suất và quản trị vận hành đã thay thế công việc cốt lõi vốn thuộc về nhà nghiên cứu
  • Việc xuất hiện những trưởng phòng thí nghiệm trẻ và độc lập ngày càng khó khăn, và ngay cả các nhà khoa học vĩ đại trong quá khứ nếu xét theo tiêu chuẩn ngày nay cũng khó mà được tuyển dụng

Sự thay đổi trong góc nhìn về nghiên cứu và thành quả

  • Như trường hợp của Peter Higgs, có thể thấy trong bầu không khí hiện tại rất khó đạt được mức độ đắm mình vào nghiên cứu như trước đây, và không đáp ứng tiêu chuẩn năng suất nên không thể được tuyển dụng
  • Ngày nay người ta ám ảnh với chỉ số, tập trung vào trách nhiệm và kiểm soát nhiều hơn là sáng tạo
  • Nguyên nhân thực sự khiến không còn những tổ chức như Bell Labs là vì người ta không trao 'tự do cấp tiến' cho những con người xuất sắc
  • Như ví dụ của Claude Shannon, đổi mới đích thực bắt đầu từ sự tò mò thuần túy, không cân nhắc giá trị thế tục

Tầm quan trọng của vai trò người bảo trợ

  • Động lực của nhà nghiên cứu dựa trên sự tò mò thuần túy, chứ không phải phần thưởng tiền bạc hay sự công nhận từ bên ngoài
  • Mervin Kelly thay vì can dự từng ly từng tí vào thí nghiệm và nghiên cứu, đã trao quyền tự chủ và chỉ trao đổi khi cần thiết
  • Một kiểu quản lý dựa trên niềm tin đã được thực hiện: giao vấn đề và bài toán nghiên cứu rồi vài năm sau mới kiểm tra tiến độ
  • Trong mắt Kelly, điều quan trọng là chọn được 'những con người không cần bị giám sát',
  • và chính 'gu tốt' cùng năng lực nhìn người để nhận ra 'động lực căn bản, đam mê và khuynh hướng' của các nhà nghiên cứu đồng cấp là nền tảng cho thành công của tổ chức
  • Những thành quả đổi mới của Bell Labs được tạo nên bởi những con người theo đuổi giá trị đích thực trong khi chịu đựng cảm giác hư vô nội tâm

Công thức (Formula)

  • Công thức thành công không thể chỉ có tự do và kiên nhẫn là đủ

  • Các bước chính trong việc xây dựng tổ chức như sau

    • Dùng gu tốt để chọn ra những nhân tài đổi mới của tương lai
    • Tập hợp họ lại để họ có thể kích thích lẫn nhau
    • Đặt xung quanh họ những người chế tạo và kỹ sư xuất sắc
    • Tạo bầu không khí để họ giao tiếp mỗi ngày
    • Chuẩn bị môi trường cho việc dạy và học lẫn nhau
  • Khi tổ chức đạt tới thời điểm có sức sống và cảm giác gắn kết

    • Chọn lọc kỹ các vấn đề rồi giao cho nhà nghiên cứu
    • Tin tưởng và bảo đảm cho họ có nhiều năm tự do
    • Chuyển giao rõ ràng cho những người trực tiếp tạo ra kết quả
    • Khi cần thì thúc đẩy mở rộng phạm vi

Trải nghiệm của 1517 Fund và những thử nghiệm mới

  • Trải nghiệm tại 1517 Fund khiến người ta cảm nhận rằng giới điều hành hiểu được các nguyên lý làm nên thành công của Bell Labs
  • VC (quỹ đầu tư mạo hiểm) có giới hạn, nhưng vẫn đang nỗ lực tạo ra không gian khám phá mở và một cộng đồng chung
  • Ví dụ, chương trình Flux của 1517 cung cấp vốn để các nhóm có thể tự do nghiên cứu mà không bị ràng buộc bởi KPI
  • Thông qua những thử nghiệm mới như vậy, kỳ vọng về sự xuất hiện của một tổ chức khác giống Bell Labs đang ngày càng lớn hơn

1 bình luận

 
GN⁺ 2025-05-12
Ý kiến trên Hacker News
  • AT&T đã có thể duy trì vị thế độc quyền nhờ một thỏa thuận đồng thuận với chính phủ Mỹ, và điều kiện là mỗi năm phải đầu tư một tỷ lệ nhất định trong lợi nhuận vào nghiên cứu. Vì AT&T không có nhiều động lực thay đổi mạng điện thoại của mình, nên họ tuân theo điều kiện đó và tiến hành nghiên cứu nền tảng. Vài chục năm sau, khi AT&T bị tách thành nhiều 'Baby Bell' và thỏa thuận đồng thuận bị hủy bỏ, Bell Labs không còn nghĩa vụ tối thiểu về tài trợ theo luật nữa. Các Baby Bell chỉ quan tâm đến những nghiên cứu có thể mang lại cổ tức dự đoán được trong ngắn hạn, và số phận của Bell Labs thực ra đã được định đoạt từ lúc đó. Cách thức tài trợ mới là điểm mấu chốt của câu chuyện

    • Cần có nguồn cho chuyện này. Theo hiểu biết của tôi, không có cơ sở nào trong thỏa thuận đồng thuận buộc AT&T phải đầu tư một tỷ lệ lợi nhuận cố định vào Bell Labs theo luật. Việc hỗ trợ nghiên cứu mang tính chiến lược và xây dựng danh tiếng hơn, và AT&T đã dùng Bell Labs để giảm áp lực chống độc quyền cũng như duy trì quan hệ với các cơ quan quản lý

    • Cuốn sách The Idea Factory giải thích rằng trước cả thỏa thuận đồng thuận, AT&T và Western Electric đã có các bộ phận nghiên cứu riêng. Họ nhận ra đang làm quá nhiều nghiên cứu trùng lặp, nên đã lập ra một tổ chức duy nhất để phụ trách tập trung các nghiên cứu cần thiết cho hệ thống viễn thông của cả hai công ty

    • Các Baby Bell đã mang theo một phần của Bell Labs và đổi tên thành Bellcore, rồi nơi này tiếp tục tồn tại thêm hơn 10 năm nữa. Tôi từng thực tập ở đó khi học MSc, và ngay thời điểm đó đây vẫn là một nơi tuyệt vời với hoạt động nghiên cứu nghiêm túc. Xem trên Wikipedia thì nơi đó vẫn còn tồn tại dưới tên khác (iconectiv)

  • Thời Bell Labs đóng vai trò thống trị là một giai đoạn mà các nhà khoa học xuất sắc rất hiếm, nhưng phần lớn trong số họ lại không được tài trợ. Ngày nay thì nhà khoa học rất nhiều, nhưng quá đông đến mức khó đánh giá được ai có tiềm năng thực sự, và đa số cũng không tạo ra ảnh hưởng mang tính đột phá. Có nhiều phê phán cho rằng khó tái hiện thời hoàng kim ấy, nhưng hệ sinh thái khi đó khác quá xa hiện tại, và nhiều vấn đề cấu trúc đến nay vẫn còn nguyên. Chỉ đổ lỗi cho 'quản trị MBA' thì chưa đủ để giải thích vì sao MBA lại xuất hiện và làm sao ngăn được điều đó. Rốt cuộc bài viết này vẫn chưa thuyết phục được rằng 1517 thực sự khác biệt

    • Ngày nay khó tạo ra các kết quả nghiên cứu có tác động lớn hơn rất nhiều. Phần lớn những 'quả thấp dễ hái' đã bị hái hết rồi

    • Việc cho rằng số lượng nhà khoa học tăng lên là vấn đề thực sự là một phát ngôn 'phản khoa học' hoàn toàn vô căn cứ. Nó giống với bầu không khí chỉ trích nghiên cứu công trên HN

    • Đánh giá tiềm năng không phải là việc khó đến vậy. Chỉ cần làm việc cùng khoảng một tháng là ai cũng có thể hiểu khá rõ tiềm năng của một người đang được đào tạo. Vấn đề cốt lõi là thiếu tài trợ và thiếu việc làm

    • Chỉ đổ lỗi cho 'quản trị MBA' thì không giải thích được vì sao MBA lại xuất hiện. Không phải vì họ thật sự là nhà quản lý hiệu quả hơn, mà là vì họ nói cùng một thứ ngôn ngữ với tầng lớp sở hữu (giới tư bản), nên được trao niềm tin như một hiện tượng xã hội

    • Rất nhiều ý tưởng 'quả thấp dễ hái' đến từ chiến tranh, và khi đó vẫn chưa được thương mại hóa. Radar, máy tính, laser, kỹ thuật vật liệu cùng nhiều đổi mới khác đều như vậy. Chiến tranh Lạnh cũng là một động lực để đổ tiền vào

    • Phần 'nhiều đến mức không thể đánh giá' là một triệu chứng chính của biến động cấu trúc lớn trong hệ sinh thái khoa học. Tôi thường giải thích điều này bằng 'hiệu ứng Baumol': mức độ khó ngày càng tăng của công việc mang tính con người là cập nhật giáo dục và bản thân nghiên cứu. Tôi không nghĩ AI hay VC sẽ làm giảm đáng kể ma sát từ giáo dục tới đổi mới nghiên cứu. Ngược lại, chúng ta nên nỗ lực cải thiện hệ sinh thái. Ý tưởng "hãy để mọi người giao tiếp với nhau mỗi ngày" là một ý hay

    • Vì sao MBA xuất hiện và vì sao nó được chọn thay vì các kiểu quản lý khác là một chủ đề đan xen giữa 'chủ nghĩa tân tự do' và chủ nghĩa tư bản quản trị chạy theo thành tích ngắn hạn. Không cần phải giải thích lại điều đó mỗi lần

    • Không thể tái hiện thời hoàng kim vì hệ sinh thái đã khác quá nhiều. Việc thiếu tài trợ là thuộc tính của chủ nghĩa tư bản. Những dòng tiền khổng lồ như quỹ hưu trí đi tìm nơi sinh lời lớn nên bị hút vào mạng xã hội, tiền mã hóa, AI và những lĩnh vực có lợi nhuận ngắn hạn cao hơn giá trị xã hội. Nghiên cứu nền tảng có ROI kéo dài hàng chục năm nên không hút được tiền. Trước đây chính phủ, đặc biệt là tổ hợp quân sự-công nghiệp-học thuật, từng tài trợ cho những nghiên cứu như GPS, radar, laser, Internet, nhưng các chính phủ bảo thủ đã cắt giảm R&D, khiến toàn bộ nền kinh tế chuyển sang một cấu trúc chỉ muốn thu địa tô với nỗ lực tối thiểu. Các tỷ phú không phải lời giải cho chuyện này. Gần như không có người giàu nào sẵn sàng đầu tư vào R&D một cách hưởng thụ, vô điều kiện

    • Thời hoàng kim là giai đoạn mà chỉ với tinh thần thử nghiệm cơ bản cũng có thể tạo ra những khám phá mang tính đột phá. Thời đó đã qua rồi

  • Theo Ralph Gomory của IBM Research, chỉ tập hợp người thông minh và lập một phòng thí nghiệm thì chưa thể tạo ra đổi mới. Nghiên cứu bị cô lập thường cho kết quả yếu. Chỉ khi đi song song giữa cải tiến dần dần công nghệ tại hiện trường và công nghệ đột phá thì mới tạo ra thành quả có ý nghĩa

    • Atari cũng từng thử một cách tương tự vào thập niên 1980, xoay quanh Alan Kay, nhưng thất bại vì thiếu kinh phí

    • Đằng sau một đột phá là vô số con người và thời gian. Cũng như nghiên cứu, cần nhiều người ở hiện trường để đưa kết quả ra thế giới thực hơn nữa

    • RCA cũng từng cố bắt chước Bell Labs rồi lại lâm vào khủng hoảng

    • Có thể kể ngay rất nhiều ví dụ tiêu biểu về việc Bell Labs đã thay đổi thế giới, nhưng lại khó nêu ngay một đổi mới tiêu biểu xuất phát từ IBM Research. Điều đó cho thấy ảnh hưởng của Bell Labs lớn đến mức nào

    • Bài viết "How did places like Bell Labs know how to ask the right questions?" của Eric Gilliam cũng đi đến kết luận tương tự. Câu chuyện rằng chỉ riêng Bell Labs là đặc biệt thật ra cản trở việc hiểu vấn đề. Vấn đề là bài viết đó đang cố dựng nên một câu chuyện trong đó venture capital hay một số VC được đặt cùng phía với các nhà đổi mới thực sự kiểu Bell Labs, đối đầu với một tầng lớp quản lý vĩnh viễn. Kiểu thảo luận này giờ không còn mới mẻ nữa

    • Cốt lõi là trao tự do cho các nhà nghiên cứu, và điểm khác biệt là không cô lập họ

  • Đổi mới chỉ có thể xảy ra khi chấp nhận tinh thần thử nghiệm mà thành công không được đảm bảo. Cũng phải nhìn vào những thất bại của Bell Labs. Nếu chỉ nhìn thành công, thì mô hình VC hiện tại cũng có thể bị xem là rất ấn tượng (ví dụ: OpenAI, hay việc LLM thoát khỏi tình trạng trì trệ trong lòng Google). Mô hình do chính phủ dẫn dắt, như đổ bộ Mặt Trăng hay Internet, cũng có giá trị riêng. Nhưng thực tế là mô hình nào rồi cũng lặp lại một quỹ đạo: sau thành công sẽ xuất hiện văn hóa tối ưu hóa quản trị, rồi dần đầy rẫy né tránh rủi ro và sao chép ý tưởng, cuối cùng dẫn tới thất bại. Rốt cuộc cần một cách huy động vốn mới, hoặc một cách phá vỡ tâm lý con người vốn ám ảnh với kiểm soát và đảm bảo lợi nhuận

    • Mô hình VC thực ra rất tệ. Những vấn đề xã hội quan trọng lại do một số ít nhà giàu quyết định, và họ hành động theo lợi ích của chính mình, đôi khi còn theo cả quan điểm muốn kiểm soát xã hội tương lai. Thứ mô hình VC sản sinh ra phần lớn là lừa đảo, dịch vụ phi đạo đức, xã hội giám sát và những mô hình kinh doanh vô giá trị chỉ biết vắt kiệt con người. Về gốc rễ, giải quyết vấn đề thật sự cần tiền nhưng không thể thu hồi lại khoản đó, nên các vấn đề thật ngày càng bị né tránh trong một vòng luẩn quẩn
  • Có thể xem nhiều tư liệu rất hay về lịch sử công nghệ trên "AT&T Archives" của kênh YouTube AT&T Tech Channel

  • Tôi nghĩ những mô hình như chương trình Flux của 1517, tức là cấp vô điều kiện 100.000 USD trong vài tháng để người ta thử nghiệm mà không đòi KPI hay kết quả tức thì, là có ý nghĩa. Nhưng giờ chuyện nhập cư vào Mỹ, đặc biệt với sinh viên và người trẻ, gần như không còn khả thi trong thực tế. Ngày nay người từ 16 đến 22 tuổi hầu như chẳng ai muốn sang Mỹ vì lo bị ICE trục xuất chỉ vì phát ngôn trên mạng, v.v. Các trường đại học và công ty Mỹ đang chịu thiệt hại lớn vì chảy máu chất xám

  • Nếu muốn hiểu văn hóa và bầu không khí nghiên cứu ở Bell Labs, tôi khuyên đọc The Art of Doing Science and Engineering của Richard W. Hamming

    • Cha tôi từng trực tiếp nghe bài giảng của Hamming mà Paul Graham chia sẻ trên blog vào năm 1986, và ông nói nó cực kỳ ấn tượng

    • Cuốn sách này gần như cháy hàng suốt cả năm nay. Cũng thú vị khi đang nói về AT&T và Bell Labs mà Stripe lại không xoay xở nổi cả tồn kho của một cuốn sách in số lượng nhỏ

  • Về nhận định rằng 'lý do không còn Bell Labs là vì người ta không còn sẵn sàng trao mức tự do và quyền tự chủ cực lớn cho người thông minh', theo trải nghiệm của tôi thì ngày nay người thông minh lại không muốn điều đó trong tổ chức. Nếu cho tự chủ, một số người thật sự chẳng làm gì cả. Những người làm tốt trong môi trường tự chủ thì thường chọn làm độc lập. Các tổ chức kiểu Bell Labs có lẽ đã bớt cần thiết hơn cho đổi mới thực sự, trong khi quy mô công việc một cá nhân có thể làm được lại tăng lên rõ rệt. Tôi từng đồng ý với bài viết, nhưng giờ thấy gần như không thể tìm được người muốn tự do và tự chủ. Có vẻ họ đã vượt ra ngoài nhu cầu phải thuộc về một tổ chức

    • Về nỗi lo rằng 'cho tự do thì họ chỉ chơi thôi', thực tế người thông minh không phải kiểu người cần được trông nom; chỉ cần định hướng là họ tự làm việc. Richard Hamming từng kể một giai thoại nổi tiếng: "Nếu cậu làm việc lâu và chăm như Tukey thì không biết cậu sẽ khám phá ra điều gì đâu"

    • Trải nghiệm của tôi hoàn toàn ngược lại. Tôi đã làm trong các nhóm tự chủ nhiều năm và đa số mọi người phát triển rất tốt một cách tự nhiên. Khi được tin tưởng và cảm thấy an toàn, họ sẽ muốn tạo ra thành quả. Vấn đề lớn hơn thậm chí là họ làm quá sức rồi va vào giới hạn. Có thất bại, nhưng chỉ một thành công thôi cũng đủ bù cho tất cả thất bại. Trong lập trình và mô hình số, một nhóm nhỏ có thể mang lại thành công lớn

    • Ngược lại, nếu có nơi nào muốn những người tìm kiếm tự do và tự chủ, tôi muốn làm ở đó. Tôi muốn tập trung vào nghiên cứu hơn là kinh doanh, và trong một đội ngũ có thể làm được nhiều việc hơn. Cũng thú vị là các kiểu giáo dục như homeschooling lại không tạo ra mẫu nhà nghiên cứu phổ biến

    • Tôi hiểu ý nghĩ rằng 'người thông minh thì không cần tổ chức'. Nhưng sự kích thích và cộng hưởng sinh ra khi làm việc với người khác là thứ không thể có nếu chỉ làm một mình

    • Trước đây cũng có một thiểu số không làm việc, nhưng họ không làm hỏng những thành tựu lớn, và ngày nay cũng vậy

    • Điểm cốt lõi là nếu trao tự do, quyền tự chủ, môi trường ổn định và mức lương phù hợp thì người thông minh sẽ tỏa sáng. Tuy nhiên, nếu anh kỳ vọng họ phải đóng góp cho hoạt động kinh doanh, thì như vậy đã không còn là tự chủ nữa. Người càng thật sự thông minh thì càng chỉ xử lý những yêu cầu quan liêu ở mức tối thiểu

  • Ngay trong các công ty công nghệ lớn của Mỹ hiện nay cũng có những tổ chức nghiên cứu khá lớn. Bell Labs nổi tiếng vì là một phần của công ty độc quyền điện thoại, nhưng AT&T thực ra đã rút chân khỏi việc phát triển hệ điều hành (UNIX), và UNIX về bản chất là một kiểu dự án làm ngoài giờ của hai kỹ sư nổi tiếng. Ngày nay ít có công ty nào độc nhất vô nhị như vậy, nhưng những công ty như Microsoft vẫn đầu tư đáng kể cho nghiên cứu dài hạn. Chỉ là hiện nay các đột phá lớn có vẻ không nhiều như trước, chứ các nỗ lực đổi mới vẫn rất sôi động

    • F#, Typescript, VSCode, WSL đều khá mang tính đột phá. Dù không vĩ đại như UNIX, nhưng còn có Typescript ngang tầm Haskell, rồi cả cuộc cách mạng mã nguồn mở như Tor, Bitcoin, Redis, Linux. Đây vẫn là một thời đại tuyệt vời. Việc chúng xuất hiện từ nhiều nơi khác nhau chứ không chỉ một nơi còn tốt hơn nữa
  • Cũng giống như mối liên hệ giữa 'sự buồn chán' và sáng tạo, khi người ta không có quá nhiều việc phải làm thì những điều sáng tạo hơn nhiều có thể xuất hiện. Việc tạo điều kiện để những người thông minh được tự do khám phá mà không phải lo mưu sinh có giá trị xã hội rất lớn. Cách này trông có vẻ kém hiệu quả, thậm chí lãng phí, và đòi hỏi niềm tin. Với công ty đại chúng, điều đó chỉ khả thi khi có tiền mặt dư thừa. Trong lịch sử, chính 'giai tầng nhàn rỗi' ở châu Âu từ thế kỷ 16 đến 19 đã dẫn dắt các ngành như khoa học tự nhiên. Ngược lại, nếu mọi thời gian đều được phân bổ sẵn thì sáng tạo sẽ giảm đi và động lực đổi mới cũng ít hơn. Rốt cuộc xã hội đôi khi phải chấp nhận tiêu hao tài nguyên dư thừa vào những việc kỳ quặc thì mới có thể tạo ra những đổi mới hoàn toàn mới. Trớ trêu thay, chính nguồn tiền mà các công ty độc quyền thu được bằng cách chặt chém người dân lại đã làm nên những đổi mới đó

    • Đây là lợi ích lớn nhất của thu nhập cơ bản phổ quát (UBI). Có thể nhiều người sẽ chỉ xem TV hoặc lướt Internet, nhưng thường thì khi chán, con người lại bắt đầu làm điều gì đó mới, và đôi khi nó dẫn đến kết quả tuyệt vời

    • Bản chất không phải là 'tài nguyên dư thừa' mà là 'đam mê và niềm tin'. Nếu nhìn vào những giai đoạn tạo ra kết quả thiên tài trong nghệ thuật, điện ảnh, v.v., thì nghịch lý là nhiều thành tựu lớn lại xuất hiện vào lúc nghèo khó nhất. Điều quan trọng là tin vào một tầm nhìn

    • Tôi nghĩ nên có nhiều người hơn như John Carmack: sau khi đã có một mức tài sản nhất định thì dấn thân vào nghiên cứu mã nguồn mở như một 'nhà khoa học công dân'. Nghỉ hưu sớm rồi sống bằng hoạt động trí tuệ là một cách tránh sự nhàm chán

    • NSF (Quỹ Khoa học Quốc gia Mỹ) từng đóng vai trò như vậy. Việc học cao học của tôi cũng được NSF hỗ trợ, nhờ đó tôi có thể làm nghiên cứu thuần túy không cần mục đích ứng dụng đặc biệt nào. Giờ tôi làm trong nghiên cứu doanh nghiệp, nhưng trải nghiệm nghiên cứu tự do đó là một nền tảng rất vững chắc

    • Có lẽ ý tưởng của 'chủ nghĩa xã hội' cũng là ở chỗ chính phủ đóng vai trò như một quỹ lớn để vận hành các viện nghiên cứu và tạo ra một mô hình có trách nhiệm với công chúng

    • Môi trường đại học/nghiên cứu mà tôi mong muốn cũng chính là như vậy. Tôi đang làm tiến sĩ, nhưng cảm thấy hệ thống học thuật hiện nay không còn thực hiện đúng vai trò vốn có. Nhân danh 'giảm lãng phí', người ta lượng hóa mọi thứ, nhưng rốt cuộc lại tạo ra lãng phí nhiều hơn. Nghiên cứu nền tảng vốn rất khó đo kết quả, và ngay cả thất bại cũng là một bước tiến có ý nghĩa vì nó thu hẹp không gian khám phá, thế nhưng vì cứ cố đánh giá mọi thứ bằng con số kết quả nên bản chất bị mất đi. Ngay cả định nghĩa 'thất bại' trong nghiên cứu cũng rất mơ hồ. Khoa học phần lớn không trực tiếp chứng minh điều gì, mà tiến hóa bằng cách bác bỏ các lý thuyết đang có. Nhưng hệ thống hiện tại đã biến thành 'publish or perish', và điều đó bóp nghẹt mạnh mẽ cả tính độc đáo. Những chủ đề rủi ro hoặc ngoài dòng chính hầu như không thể thử. Peer review vốn dĩ là để thảo luận công khai, nhưng giờ đã trở nên khép kín và tính chủ quan của người phản biện trở thành quyền lực. Mọi thứ nên được mở hơn: công khai review, công khai code, dữ liệu và lịch sử chỉnh sửa. Trong một môi trường như vậy, tác động tạo ra sẽ là rất lớn. Thực ra ai cũng từng trải nghiệm rằng sự tò mò thường khớp rất tốt với những vấn đề quan trọng. Có lẽ nếu được hỗ trợ nghiên cứu vô điều kiện, thậm chí với mức lương giảm mạnh, vẫn sẽ có rất nhiều người sẵn sàng làm ngay. Cuối cùng đây sẽ là cách tạo ra của cải và giá trị cho cả doanh nghiệp lẫn học giới. Tất nhiên, hiện tượng này không chỉ giới hạn trong giới học thuật; ngành công nghiệp cũng đang chịu những vấn đề tương tự