1 điểm bởi GN⁺ 2024-07-19 | 1 bình luận | Chia sẻ qua WhatsApp
  • Bell Labs từng hỗ trợ việc xây dựng và vận hành mạng điện thoại của AT&T trong thế kỷ 20, tạo ra các thành tựu như transistor, UNIX và lý thuyết thông tin, nhưng rất khó để cố ý khôi phục lại những điều kiện đó trong ngày nay
  • Cốt lõi của thành công là AT&T là một công ty điện thoại độc quyền tích hợp theo chiều dọc được chính phủ công nhận, nhờ đó có thể cung cấp nguồn vốn, thời gian và nơi áp dụng cần thiết cho nghiên cứu dài hạn trong cùng một tổ chức
  • Văn hóa nghiên cứu tự do như giới học thuật, nhưng vẫn nằm trong một hàng rào hẹp là cải thiện Bell System, và phần lớn công việc thực tế gần với việc cải tiến sản phẩm, linh kiện, sản xuất và chất lượng hơn
  • Sau khi AT&T bị chia tách năm 1982, Bell Labs trải qua thay đổi tổ chức và áp lực tài chính liên tiếp qua Bellcore, Lucent, Alcatel-Lucent và Nokia, khiến quy mô nghiên cứu suy giảm mạnh
  • Transistor và công nghệ số do Bell Labs tạo ra đã cho phép nhiều công ty cùng chia nhau phát triển công nghệ viễn thông, cuối cùng làm suy yếu chính hệ thống viễn thông độc quyền đã từng khiến Bell Labs có thể tồn tại

Phòng thí nghiệm được tạo ra bởi mạng điện thoại của AT&T

  • Trong phần lớn thế kỷ 20, AT&T gần như một tay đảm nhiệm việc xây dựng và vận hành hạ tầng điện thoại của Mỹ
    • Sản xuất điện thoại và thiết bị điện, kéo hàng trăm triệu dặm dây trên toàn quốc, vận hành tổng đài viên và các tổng đài điện thoại
    • Việc sản xuất thiết bị do công ty con sản xuất của AT&T là Western Electric phụ trách, còn thiết kế và phát triển do Bell Telephone Laboratories, tức Bell Labs, đảm nhiệm
  • Bell Labs được xem không chỉ là một viện nghiên cứu công nghiệp mà còn là phòng nghiên cứu hàng đầu thế giới; một cựu thành viên từng mô tả đây là “một tổ chức gần như tương đương với toàn bộ các cơ sở học thuật gộp lại”
  • Thành tựu tiêu biểu nhất là transistor, nhưng danh sách thành tựu còn rộng hơn nhiều
    • Tế bào quang điện silicon, vệ tinh thông tin chủ động và thụ động đầu tiên, videophone đầu tiên, hệ thống điện thoại di động đầu tiên, cáp điện thoại sợi quang đầu tiên, đồng hồ thạch anh
    • Lý thuyết thông tin, kiểm soát quá trình bằng thống kê, UNIX, phát hiện bức xạ nền vi sóng vũ trụ
    • Bằng sáng chế về hợp chất bảo vệ polyethylene khỏi phân hủy do ánh sáng mặt trời là bằng sáng chế giá trị nhất mà AT&T từng tạo ra
  • Thành tích giải thưởng cũng rất lớn
    • 10 giải Nobel, 5 giải Turing, 5 giải Draper
    • 36 nhân viên Bell Labs được ghi danh vào National Inventors Hall of Fame
  • Bell Labs hiện tồn tại dưới dạng công ty con của Nokia, nhưng ngoài cái tên ra thì gần như không còn liên hệ gì với trung tâm nghiên cứu công nghiệp giữa thế kỷ 20

Vì sao AT&T nuôi lớn tổ chức nghiên cứu này

  • AT&T thời kỳ đầu không có nhiều hoạt động khoa học hay phát minh, mà gần với cách mua bằng sáng chế và sáng chế từ bên ngoài rồi điều chỉnh cho phù hợp nhu cầu
  • Sau năm 1907, chiến lược công nghệ của AT&T thay đổi
    • Sau khi các bằng sáng chế chủ chốt hết hạn, công ty phải cạnh tranh với hàng nghìn công ty điện thoại độc lập; trong giai đoạn 1902~1907 nợ tăng gấp ba và giá cổ phiếu giảm hơn 50%
    • Một nhóm chủ ngân hàng do JP Morgan dẫn dắt nắm quyền kiểm soát công ty và đưa Theodore Vail lên làm chủ tịch
  • Vail xem mạng điện thoại là một độc quyền tự nhiên cần được một công ty duy nhất vận hành dưới sự quản lý của chính phủ, với mục tiêu “one system, one policy, universal service”
  • Để cung cấp dịch vụ điện thoại phổ cập, cần giải quyết vấn đề suy hao tín hiệu đường dài
    • Khi Vail nhậm chức, tín hiệu điện thoại chỉ đi được khoảng 1.800 dặm, tức cỡ từ New York đến Denver
    • John Carty và Frank Jewett bắt đầu dự án phát triển bộ lặp tín hiệu điện thoại vào năm 1909
    • Harold Arnold nghiên cứu khuếch đại điện tử và phát triển bộ khuếch đại điện thoại dựa trên audion của Lee de Forest
    • Năm 1915, tuyến điện thoại New York-San Francisco được khai thông với bộ khuếch đại dùng đèn chân không
  • Bell Labs chính thức ra đời năm 1925 khi hợp nhất nhiều tổ chức nghiên cứu và kỹ thuật, nhưng quan niệm của Vail về việc liên tục cải thiện dịch vụ điện thoại bằng phát triển công nghệ dựa trên khoa học đã sớm bén rễ trong AT&T

Kết hợp giữa nghiên cứu tự do và hiện trường công nghiệp

  • Bell Labs khám phá phạm vi khoa học rất rộng dưới mục tiêu cải thiện công nghệ viễn thông
    • Không chỉ có vật lý, hóa học, luyện kim, toán học mà còn có cả các bộ phận sinh lý học và tâm lý học
  • Dù môi trường nghiên cứu rất tự do, nó vẫn giữ bản chất của một viện nghiên cứu công nghiệp
    • Eric Gilliam mô tả điều này là “dây dắt dài, hàng rào hẹp
    • Các nhà nghiên cứu có thể khám phá nhiều con đường khác nhau, nhưng các kỹ sư hệ thống sẽ kết nối tiến bộ khoa học với nhu cầu hiện trường để định hướng vấn đề theo hướng hữu ích cho Bell System
  • Trái với những thành tựu nghiên cứu nổi tiếng, phần lớn công việc của Bell Labs là phát triển và cải tiến sản phẩm
    • Tùy từng thời kỳ, các nhà nghiên cứu chỉ chiếm khoảng 10~20% tổng nhân lực
    • Phần còn lại tập trung vào việc biến phát minh và khám phá thành sản phẩm có thể sản xuất, thử nghiệm vật liệu và linh kiện, và cải tiến dần thiết bị điện thoại cùng hạ tầng
  • Trong lịch sử Bell Labs do Jon Gertner viết, các cải tiến chi tiết như lò xo switchboard, dây an toàn bằng da, đinh tán, mối hàn, khoảng cách dây điện hay quy trình chôn cáp đều xuất hiện như công việc quan trọng
  • Năm 1939, AT&T kiểm soát 83% điện thoại tại Mỹ, 98% đường dây đường dài và 100% liên kết điện thoại vô tuyến xuyên lục địa, đồng thời mỗi năm bổ sung thêm 2 triệu dặm đường dây điện thoại
    • Những phát minh của Bell Labs như bộ khuếch đại phản hồi âm thanh, cáp đồng trục và crossbar switch đã hỗ trợ cho sự tăng trưởng này

Đỉnh cao được tạo nên bởi transistor

  • Thành tựu tiêu biểu nhất của Bell Labs là transistor và các công nghệ phái sinh từ nó
    • MOSFET, tế bào quang điện, tăng trưởng tinh thể, zone melting và các furnace khuếch tán tiếp nối sau đó
  • Mạng điện thoại cần một lượng lớn đèn chân không và relay cơ học, nhưng đèn chân không dễ hỏng và tốn điện, còn relay cơ học thì chậm và bị mài mòn
  • Mervin Kelly muốn thay thế chúng bằng linh kiện trạng thái rắn không có bộ phận chuyển động, và cơ học lượng tử cùng nghiên cứu bán dẫn đã mở ra khả năng này
  • Bell Labs nghiên cứu bán dẫn từ đầu những năm 1930
    • Walter Brattain gia nhập năm 1929 và nghiên cứu copper oxide rectifier
    • Năm 1936, Kelly tuyển William Shockley để củng cố bộ phận vật lý chất rắn
    • Sau khi John Bardeen gia nhập năm 1945, Bardeen, Brattain và Shockley đã thúc đẩy hiểu biết về bộ khuếch đại bán dẫn
    • Tháng 12 năm 1947, họ công bố transistor
  • Những phát minh tiếp theo đã biến transistor thành sản phẩm thực dụng
    • Năm 1948, bipolar junction transistor dễ chế tạo và đáng tin cậy hơn point-contact transistor
    • Tăng trưởng tinh thể năm 1950, zone melting năm 1951, rồi transistor silicon và furnace khuếch tán năm 1954 nối tiếp nhau ra đời
    • Năm 1950, Western Electric sản xuất 100 transistor mỗi tháng cho thiết bị của Bell System
    • Năm 1954, nghiên cứu chất rắn của Bell Labs tạo ra tế bào quang điện silicon đầu tiên trên thế giới
  • Sau transistor, vị thế của Bell Labs được củng cố như viện nghiên cứu công nghiệp số một thế giới, thậm chí là phòng nghiên cứu số một thế giới
    • Các nhà nghiên cứu Bell Labs được hưởng mức tự do ngang giới học thuật mà không phải xin tài trợ hay gánh nặng giảng dạy, đồng thời có thể dùng các nguồn lực kỹ thuật như thiết bị tối tân
    • 8 trong số 10 giải Nobel đến từ các nhà nghiên cứu được tuyển trong giai đoạn 1950~1970, sau phát minh transistor

Suy thoái sau khi AT&T bị chia tách

  • Bell Labs tiếp tục có các phát minh và khám phá quan trọng cho tới trước khi AT&T bị chia tách theo lệnh tòa án năm 1982
  • Trước thời điểm chia tách, vẫn có sự lạc quan rằng môi trường nghiên cứu có thể được duy trì
    • Năm 1983, nhà nghiên cứu AI của Bell Labs là Mitchell Marcus nói rằng phòng thí nghiệm đang quay lại tinh thần cũ từng khiến nó hiệu quả
    • Sau chia tách, một phần bị tách ra thành Bellcore nhưng phần lớn Bell Labs vẫn còn lại, và nghiên cứu sau đó tiếp tục dẫn tới 5 giải Nobel
  • Tuy nhiên, tổ chức này liên tục bị chia nhỏ và chuyển giao
    • Năm 1983, Bellcore được thành lập
    • Năm 1996, Western Electric tách ra thành Lucent Technologies và Bell Labs cũng bị chia theo
    • Lucent tiếp tục tách Avaya và Agere, và các công ty này cũng mang theo một phần các nhà nghiên cứu của Bell Labs
    • Lucent bị Alcatel mua lại, và năm 2015 Nokia thâu tóm Alcatel-Lucent để tạo thành Nokia Bell Labs hiện nay
  • Áp lực tài chính đã thay đổi hướng nghiên cứu
    • Bell Labs được tái cơ cấu theo các dòng kinh doanh, và một số lĩnh vực như kinh tế học hay tâm lý học xã hội biến mất
    • Phần nghiên cứu còn lại chịu áp lực phải phục vụ nhu cầu tức thời của hoạt động kinh doanh
    • Nhân tài giỏi bắt đầu rời sang giới học thuật hoặc Silicon Valley
  • Sự khác biệt về quy mô cũng rất lớn
    • Cuối những năm 1970, AT&T sử dụng khoảng 1 triệu nhân viên, nhưng Lucent khi thành lập chỉ có 140.000 người và giảm còn 35.000 vào năm 2002
    • Cuối những năm 1970, Bell Labs có khoảng 25.000 nhân viên và 1.300 nhà nghiên cứu
    • Đến năm 2002, chỉ còn khoảng 500 nhà nghiên cứu ở Bell Labs
    • Hiện nay Nokia Bell Labs có khoảng 750 nhân viên, với trọng tâm nghiên cứu là nền tảng mạng, tự động hóa, bán dẫn và AI

Điều kiện thành công: độc quyền, tích hợp dọc, mục tiêu và sự ngẫu nhiên của thời đại

  • Nền tảng quan trọng nhất của Bell Labs là việc AT&T là một công ty điện thoại độc quyền tích hợp theo chiều dọc quy mô lớn được chính phủ công nhận
    • Quy mô của AT&T khiến Bell Labs dù là một tổ chức nghiên cứu khổng lồ vẫn chỉ là gánh nặng nhỏ so với doanh thu
    • Vị thế độc quyền cho phép công ty chịu đựng các nghiên cứu phải 10 hay 20 năm sau mới ra kết quả
    • Những công nghệ như sợi quang, cáp điện thoại dưới biển hay chuyển mạch điện tử đều mất hàng chục năm để phát triển
  • Quy mô khổng lồ của AT&T cũng khiến ngay cả những cải tiến rất nhỏ cũng trở nên có giá trị
    • Chỉ cần tiết kiệm vài cent ở linh kiện hay dịch vụ, khi nhân lên trên toàn Bell System sẽ tạo ra tác động lớn
  • Tích hợp dọc mở rộng nơi áp dụng cho nghiên cứu
    • Vì AT&T vừa thiết kế, sản xuất lẫn vận hành thiết bị điện thoại, các khám phá có khả năng cao sẽ được dùng ở đâu đó trong Bell System
    • Bài kiểm tra nhận biết chiều sâu của Bela Julesz từng được dùng để loại những nhân viên kiểm tra thiếu khả năng cảm nhận chiều sâu trong khâu kiểm tra chất lượng mạch tích hợp
  • Chuyên môn rộng cũng giúp giải quyết vấn đề
    • Các chuyên gia từ nhiều lĩnh vực cùng ở trong một tổ chức, dễ tiếp cận và sẵn sàng chia sẻ kiến thức
  • AT&T quá lớn nên luôn đối mặt với nguy cơ bị chính phủ chống độc quyền hoặc quốc hữu hóa, và việc liên tục cải thiện dịch vụ điện thoại là cách để biện minh cho sự tồn tại của mình
  • Mục tiêu rõ ràng của Bell Labs cũng rất quan trọng
    • Mục tiêu là cải thiện công nghệ điện thoại và viễn thông, làm cho dịch vụ của AT&T tốt hơn và rẻ hơn, đồng thời đáp ứng nhu cầu điện thoại ngày càng tăng
    • John Pierce cho rằng phòng nghiên cứu cần có trách nhiệm và mục tiêu chung, và các viện nghiên cứu lớn của thế kỷ 20 xuất hiện vì “chúng thực sự cần thiết”
  • Điều kiện thời đại cũng đóng vai trò lớn
    • Cơ học lượng tử trong thập niên 1920~1930 cung cấp các hiện tượng vật lý mới
    • Sự trỗi dậy của Hitler khiến các nhà vật lý châu Âu di cư sang Mỹ, và vào cuối thời kỳ Đại suy thoái, Bell Labs là một trong số ít tổ chức còn có thể thuê nhà vật lý
    • Trong WWII, Bell Labs tuyển thêm hàng nghìn người và thực hiện hơn 1.000 hợp đồng với chính phủ về radio cho xe tăng, thiết bị mã hóa, hệ thống chỉ huy pháo phòng không, radar và nhiều lĩnh vực khác

Vì sao ngày nay khó tái hiện

  • Về nguyên tắc, bản thân văn hóa kiểu Bell Labs vẫn có thể được tạo ra
    • Định hướng mục tiêu ở mức cao
    • Tự do rộng trong cách đạt mục tiêu
    • Hợp tác liên ngành
    • Nghiên cứu xoay quanh vấn đề thực tế
    • Khi cần thì tiến hành cả nghiên cứu cơ bản
    • Giảm tối đa gánh nặng cho nhà nghiên cứu và tăng tối đa tính linh hoạt
  • Nhưng rất khó để chủ động tạo ra kiểu văn hóa đó
    • Những yếu tố như thành công bùng nổ ban đầu của một dự án phát triển dựa trên khoa học không thể muốn là có
    • Việc gắn cho tổ chức một mục tiêu khác với nhu cầu cấp bách xuyên suốt toàn bộ văn hóa tổ chức
    • Phần lớn danh tiếng của Bell Labs đến từ phát minh transistor, còn danh tiếng và khả năng thu hút nhân tài hàng đầu cũng không thể kiểm soát hoàn toàn
  • Vấn đề lớn hơn là vốn và cấu trúc
    • Bell Labs có tầm nhìn R&D dài và rộng một cách bất thường đối với một viện nghiên cứu công nghiệp nhờ độc quyền điện thoại tích hợp dọc quy mô lớn
    • Ngay cả những công ty như Google chi hàng tỷ USD cho R&D và hỗ trợ các dự án dài hạn như xe tự lái hay kéo dài tuổi thọ cũng không hoàn toàn đi theo mô hình Bell Labs
    • Các dự án Moonshot của Google có xu hướng được tổ chức như công ty độc lập, gọi vốn bên ngoài và nếu hứa hẹn thì được tách ra thành công ty riêng
  • Bell Labs cũng mất quyền kiểm soát vì chính các công nghệ mình tạo ra
    • Những công nghệ như tế bào quang điện, CO2 laser hay hóa học glow stick gần như không ảnh hưởng đến Bell System cũng xuất hiện
    • Những nghiên cứu như âm nhạc tạo bằng máy tính hầu như không có ứng dụng thực tế
    • Bell Labs phát minh ra transistor, nhưng tới thập niên 1960 thì trọng tâm phát triển vi điện tử đã chuyển sang nơi khác
    • Mạch tích hợp và microprocessor đều được phát minh bên ngoài Bell Labs
  • Bản thân AT&T cũng chậm trong việc đưa transistor vào sử dụng
    • Transistor được phát triển để thay thế đèn chân không và relay cơ học, nhưng tổng đài điện tử đầu tiên chỉ được triển khai vào năm 1964
    • Công nghệ này vẫn tiếp tục được triển khai ngay cả trong thập niên 1980
  • Truyền dẫn vi sóng cũng thoát khỏi sự kiểm soát của AT&T
    • Năm 1951, AT&T triển khai hệ thống truyền dẫn điện thoại vi sóng đầu tiên dựa trên nghiên cứu vi sóng từ thời WWII
    • Chưa đầy 20 năm sau, các công ty khác đã dùng hệ thống vi sóng riêng để thách thức AT&T, trong đó MCI là bên châm ngòi cho sự sụp đổ của AT&T
  • Việc AT&T bị buộc cấp phép bằng sáng chế theo thỏa thuận với Bộ Tư pháp năm 1956 là một phần nguyên nhân, nhưng không phải toàn bộ lời giải thích
  • Văn hóa nội bộ Bell Labs cũng thay đổi
    • Philip Anderson cho rằng Bell Labs bị buộc phải điều chỉnh văn hóa để giữ chân các nhà nghiên cứu hàng đầu
    • Trước đây, người ta phải biện minh mối liên hệ với hệ thống điện thoại, nhưng tới thập niên 1970~1980 thì yêu cầu này đã yếu đi
    • Narain Gehani hồi tưởng rằng bộ phận nghiên cứu Bell Labs thời kỳ sau không cố gắng hợp tác với các đơn vị kinh doanh hay biện minh cho lý do tồn tại của mình

Thế giới do Bell Labs tạo ra đã làm Bell Labs suy yếu

  • Alan Chynoweth cho rằng trước transistor, kỹ thuật viễn thông là một lĩnh vực chuyên biệt và khó tiếp cận, nhưng transistor cùng mạch tích hợp và công nghệ số đã thay đổi toàn bộ điện tử học và công nghệ thông tin
  • Sự thay đổi này tạo ra môi trường nơi thiết bị, hệ thống và dịch vụ viễn thông có thể được nhiều công ty chuyên môn khác nhau cùng phát triển, và các đối thủ mới cũng dễ tự phát triển công nghệ viễn thông hơn
  • Jon Gertner cũng cho rằng các công nghệ do Bell Labs tạo ra cuối cùng đã tháo gỡ thế độc quyền của AT&T và làm suy yếu chính những điều kiện từng khiến Bell Labs có thể tồn tại
  • Bell Labs không chỉ là sản phẩm của những điều kiện lịch sử đặc biệt, mà còn là sản phẩm của một chế độ công nghệ cụ thể nơi một siêu độc quyền đơn nhất phù hợp với việc cung cấp và kiểm soát công nghệ viễn thông
  • Vì vậy, câu hỏi ngày nay không hẳn là làm sao tái tạo Bell Labs y nguyên, mà gần hơn với việc làm sao để môi trường công nghệ hiện tại tiếp tục tiến hóa

1 bình luận

 
GN⁺ 2024-07-19
Các ý kiến trên Hacker News
  • Có lẽ cần đến Ma Bell. Như bài viết đã chỉ ra rất đúng, điều này liên quan đến vị thế gần như độc quyền. Đó không phải là độc quyền hoàn toàn và an toàn, nên nếu không đổi mới thì cuối cùng cũng sẽ bị nuốt chửng; còn viễn thông, theo nghĩa rất rộng, chính là mảng kinh doanh của họ.
    Những cách mới để kéo dây hiệu quả hơn giúp lợi nhuận ngay lập tức, còn công nghệ khuếch đại mới gần như chắc chắn sẽ có ích sau 10–20 năm. Các phương pháp xử lý để cột điện thoại bền hơn cũng vậy, vì thế luyện kim cơ bản, lâm nghiệp, cho đến vật lý bán dẫn tiên tiến đều nằm trong phạm vi nghiên cứu. Nhìn lại thì dù thuộc sở hữu tư nhân, nó gần như là một viện nghiên cứu công/quốc gia.

    • Tôi nghĩ không hẳn cần độc quyền, mà cần hai điều kiện thường xuất hiện trong độc quyền: nguồn vốn khổng lồ và một con hào đủ rộng để ngăn mối đe dọa cạnh tranh tức thời.
      Tôi cho rằng điều kiện thứ hai tạo ra rất nhiều động lực đổi mới. Kiểu như đến khi đối thủ bắt kịp, bạn đã tạo ra quá nhiều thứ mới khiến họ phải quay lại vạch xuất phát. Ví dụ gần nhất trong ngành công nghệ hiện nay là Apple, với con hào phần cứng tiêu dùng; còn các tập đoàn lớn khác dường như vẫn đang lấn sân và sao chép lĩnh vực kinh doanh của nhau.
    • Ngày nay tôi nghĩ Google hoặc Microsoft khá gần với mô hình đó. Hãy nhìn vào hạ tầng mà hai công ty đã tài trợ trong nhiều năm. Có thể không căn bản như Bell Labs, nhưng ngày nay cũng không còn nhiều “quả thấp” dễ hái đến mức đó.
    • Tôi nghĩ đến cách Meta công bố mã nguồn mở rất nhiều nỗ lực liên quan đến AI. Tôi không tìm được nguyên văn chính xác trong cuộc phỏng vấn với Zuckerberg, nhưng logic là thế này:
      Nếu Meta công bố mã nguồn mở các mô hình và công cụ để chúng được chấp nhận rộng rãi, thì hoặc sẽ xuất hiện cách chạy mô hình hiệu quả hơn, hoặc hạ tầng và nghiên cứu sẽ được xây dựng trên nền tảng công việc của Meta, về dài hạn đem lại khoản tiết kiệm chi phí lớn. Kiểu như công khai một mô hình được tạo ra với chi phí 10 tỷ USD hiện nay, để người khác tạo công cụ chạy nó với chi phí bằng một phần mười, rồi sau này tiết kiệm được hàng tỷ USD.
    • Câu “nhìn lại thì dù thuộc sở hữu tư nhân, nó gần như là một viện nghiên cứu công/quốc gia” đúng ở nhiều khía cạnh. Sandia National Laboratories được nhắc trong bài là một phòng thí nghiệm quốc gia, và vì AT&T vận hành nó từ khi thành lập năm 1948 nên nó được tổ chức giống Bell Labs.
      Hiện nay AT&T không còn vận hành nữa và văn hóa cũng ít giống Bell Labs hơn nhiều, nhưng các nhân viên thời kỳ đầu từng gọi Sandia là “Bell Labs West”. Sandia là phòng thí nghiệm quốc gia duy nhất xuất phát từ AT&T.
  • Google đã làm việc này rồi. Google X, Google Brain, DeepMind là các ví dụ.
    Họ đã phát minh ra kiến trúc Transformer, nền tảng của AI hiện đại, và công bố hàng chục bài báo cốt lõi trong lĩnh vực này. Tuy nhiên họ chưa cách mạng hóa được khoa học vật liệu. Chẳng hạn công nghệ memristor vẫn còn cực kỳ kém phát triển.

    • Đáng tiếc là đó là Google của 10–20 năm trước. Google hiện nay tập trung rất mạnh vào cắt giảm chi phí, nên có vẻ sẽ không đầu tư vào các dự án hướng tới tương lai mà chưa chịu áp lực lợi nhuận trước mắt.
    • Demis từng nói về thiết kế DeepMind như sau: “Khi xây dựng DeepMind, chúng tôi tham khảo văn hóa nghiên cứu từ nhiều tổ chức đổi mới, bao gồm Bell Labs và chương trình Apollo, cũng như các nền văn hóa sáng tạo như Pixar.”
      https://www.theatlantic.com/sponsored/google-2023/unlocking-...
      Về khoa học vật liệu cũng đang có dấu hiệu khởi sắc với mạng nơ-ron đồ thị: https://deepmind.google/discover/blog/millions-of-new-materi.... AlphaFold có thể là tiền lệ cho các hệ thống học sâu thúc đẩy hóa học tiến lên. Tôi sẽ không gọi đó là cách mạng, nhưng trong tương lai có thể nó sẽ được đánh giá là một chất xúc tác.
    • Memristor3D XPoint, tức Optane, đều đang bị kẹt trong khoảng trống bằng sáng chế. Các chủ sở hữu bằng sáng chế hiện tại đã thử, nhưng cho rằng công nghệ thế hệ hiện nay quá khó và lợi nhuận quá thấp; nếu muốn nghiên cứu thêm và thương mại hóa thì phải mua các bằng sáng chế cốt lõi hoặc chờ chúng hết hạn.
  • Ở đây thiếu một vấn đề cốt lõi. Bell Labs có trước cuộc cách mạng đầu tư mạo hiểm của thập niên 1970.
    Nhận thức cốt lõi của đầu tư mạo hiểm là các công ty như Bell Labs đang giữ lại những nguồn lực cực kỳ giá trị; nếu các nguồn lực đó có thể tự lập công ty thì đã tạo ra giá trị lớn hơn nhiều, nhưng mức đãi ngộ lại thấp hơn rất nhiều so với giá trị ấy. Điều này đã thành công vang dội. Không thể so sánh với một kịch bản phản thực tế, nhưng trong 50 năm qua, đổi mới ở Mỹ đã nở rộ mạnh mẽ. Tôi có lẽ sẽ không đồng ý rằng nghiên cứu cơ bản đã lụi tàn; chẳng hạn Định luật Moore cũng không tự nhiên như phép màu mà xuất hiện. Vô số công ty cung cấp dịch vụ cho thế giới hiện đại, cùng các tập đoàn lớn như chúng ta biết ngày nay, đều là kết quả của đầu tư mạo hiểm.

    • Tôi cho rằng Định luật Moore ở Mỹ gần như đã chết từ gần 20 năm trước. Những cải tiến mà chúng ta thấy đến từ nghiên cứu ở châu Á và Hà Lan.
      Ý tưởng rằng các công ty công nghệ Mỹ thực sự đang tạo ra nhiều đổi mới cũng còn gây tranh cãi. Họ thiết kế sản phẩm cho thị trường quốc tế, nhưng công nghệ cốt lõi ngày càng đến từ châu Á.
  • Tôi đã thích Bell Labs từ khoảng năm 1986 hoặc 1987. Khi đang cân nhắc làm một trình biên dịch C++, tôi lo hai điều: liệu có cần giấy phép để phát triển trình biên dịch C++ không, và liệu có cần giấy phép để gọi nó là C++ không
    Vì vậy tôi gọi cho luật sư phụ trách sở hữu trí tuệ của họ; ông ấy cười và bảo cứ tự nhiên làm, đồng thời cảm ơn vì tôi đã hỏi. Ông ấy còn nói những người khác chỉ sao chép với hy vọng Bell Labs sẽ không biết. Bell Labs thật sự là đỉnh cao

    • Câu chuyện này cho thấy rất rõ một văn hóa ít hoài nghi hơn trên toàn tổ chức so với Microsoft, Google, thậm chí OpenAI ngày nay
      Lý do và điều kiện cũng quan trọng, nhưng để tái tạo được văn hóa thì cần nhiều công sức hơn rất nhiều. Dù vậy tôi có cảm giác tính cách và hành động của Mervin Kelly là yếu tố then chốt
      https://en.wikipedia.org/wiki/Mervin_Kelly
    • Tôi sinh năm 1988 nên thấy ghen tị với những người có các câu chuyện như thế này. Đến giờ tôi vẫn chưa từng làm việc dưới một lãnh đạo kiểu như có vẻ từng khá phổ biến vào thời đó
    • Chính sách hào phóng của AT&T đối với phần mềm và phần cứng máy tính không phải là thiện chí xuất phát từ trái tim doanh nghiệp lạnh lẽo, mà là một phần trong quá trình thực thi chống độc quyền kéo dài hơn một thế kỷ đối với Bell System nguyên thủy và các hình thái sau này của nó
      Đặc biệt, sắc lệnh đồng thuận năm 1956 với Bộ Tư pháp Hoa Kỳ rất quan trọng. Sắc lệnh đó có hai biện pháp khắc phục chính: Bell System phải cấp phép miễn phí toàn bộ các bằng sáng chế hiện có, và không được tham gia các ngành ngoài viễn thông. Kết quả là vào năm 1956, 7.820 bằng sáng chế trong nhiều lĩnh vực, tức 1,3% số bằng sáng chế Hoa Kỳ chưa hết hạn, được tự do sử dụng
      <https://www.aeaweb.org/articles?id=10.1257/pol.20190086>
      <https://pubs.aeaweb.org/doi/pdfplus/10.1257/pol.20190086> (PDF)
      Theo tôi hiểu, sắc lệnh đó cũng cấm cụ thể AT&T tham gia thị trường phần cứng hoặc phần mềm máy tính. Vì vậy, khi AT&T phát triển hệ điều hành, trình biên dịch và phần mềm liên quan cho UNIX System từ năm 1969, họ chỉ có hai lựa chọn: giữ nội bộ hoặc phát miễn phí. Hạn chế đó được gỡ bỏ sau thỏa thuận chống độc quyền năm 1984, nhưng phải mất vài năm AT&T mới thật sự hành động, và kết quả là Unix Wars cuối thập niên 1980 đến đầu thập niên 1990. Điều này đã kìm hãm đáng kể khả năng tồn tại thương mại của các hệ thống Unix dựa trên BSD, trong khi một hệ thống tương tự được viết mới từ Phần Lan thì không gặp luồng gió ngược đó. Hệ thống ấy là Linux
      Lịch sử này rải rác trong nhiều nguồn, nhưng khó tìm tài liệu cụ thể, và có vẻ văn bản thỏa thuận năm 1956 của Bộ Tư pháp không có trên mạng. Wikipedia cũng đề cập các yếu tố chống độc quyền của AT&T từ năm 1913 nhưng nguồn khá yếu: <https://en.wikipedia.org/wiki/Bell_System#Kingsbury_Commitme...>. Lịch sử Unix/Linux rất có thể nằm đâu đó trong các bài của ESR hoặc nguồn khác. Tôi khá tự tin về các sự kiện, nhưng muốn có thể trích dẫn nguồn cụ thể hơn
    • Nếu AT&T yêu cầu một khoản royalty nhỏ khoảng 3~5% cho toàn bộ sở hữu trí tuệ, với điều khoản pháp lý đơn giản và quy trình phê duyệt nhanh, liệu đó có thành vấn đề không? Chẳng phải như vậy còn tốt cho hệ sinh thái hơn sao?
  • Vào thời những thứ giống Bell Labs còn có thể tồn tại, mục đích chính của doanh nghiệp không phải là được bán cho con cá lớn hơn, mà là kiếm tiền một cách lành mạnh. Không ngạc nhiên khi những công ty như vậy là các doanh nghiệp lâu đời. Vì họ đã xây dựng được những hoạt động kinh doanh vững chắc
    Ngày nay các tập đoàn khổng lồ tập trung vắt kiệt các sản phẩm hiện có đến cùng, và ít quan tâm hơn đến việc tìm nguồn doanh thu mới. Thị trường chứng khoán hiện đại là vấn đề. Nếu các con số đi xuống, người ta coi như Trái Đất đang bốc cháy. Và tại sao phải tự đổi mới? Cứ chờ người khác đổi mới rồi mua lại là được. Đó là tư duy ngắn hạn, nhưng kinh doanh ngày nay phần lớn là như vậy. Theo thời gian có thể sẽ thay đổi. Thế giới đang quay lại hướng khép kín hơn, và tôi nghĩ điều này có thể thúc đẩy đổi mới trong nước

    • Trước đây, người ta muốn xây dựng những doanh nghiệp dài hạn bền vững. Bây giờ họ chỉ muốn tạo ra lợi nhuận, và trong quá trình đó tháo dỡ từng viên gạch của những công ty tuyệt vời đã tồn tại hàng chục năm; đến khi đường biểu đồ không còn đi lên nữa thì nhận thưởng rồi chuyển sang nạn nhân tiếp theo
      GE và Boeing đã bị rút ruột. Công ty có giá trị nào sẽ là nạn nhân tiếp theo? Đây là thời đại mà các động lực khuyến khích đã bị đảo lộn hoàn toàn. Khách hàng phải đứng thứ nhất, nhân viên thứ hai, cổ đông đứng cuối. Khi đặt cổ đông lên đầu, ta sẽ đi đến chủ nghĩa tư bản giai đoạn cuối bị hỏng
    • Nói rằng các tập đoàn khổng lồ ngày nay không tìm kiếm nguồn doanh thu mới thì không thật chính xác. Có AWS/Azure/Google Cloud, và có Apple Watch/AirPods/bộ xử lý M/Vision Pro
      Meta đang chi hàng chục tỷ đô la cho VR, còn Nvidia thiết kế phần mềm để thúc đẩy tiến bộ AI. TSMC và ASML cùng các công ty khác đang cố làm cho chip hiệu quả và mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Tesla đã phổ biến xe điện và xây dựng mạng lưới sạc
  • Điểm cốt lõi là tầm nhìn thời gian
    Bell Labs đã đầu tư vào những nghiên cứu mà phải hơn 20 năm sau mới có thành quả. Một phần là vì họ gần như độc quyền, và khi đó ban lãnh đạo cũng ít chịu áp lực phải tập trung vào giá cổ phiếu ngắn hạn hơn. Ngoài ra Bell Labs còn phụ thuộc nhiều vào các hợp đồng và trợ cấp của chính phủ. Chính phủ có thể nhìn xa hơn 20 năm, và thực tế họ đã làm vậy. Ngày nay cũng thấy hiệu ứng tương tự trong ngành dược. R&D của các hãng dược, dù dài, cũng chỉ phát triển các loại thuốc sẽ bước vào thử nghiệm lâm sàng trong vòng 5–10 năm tới. Nghiên cứu nền tảng thực sự — tìm mục tiêu, hiểu cơ chế ung thư/Alzheimer để tạo điểm khởi đầu cho thuốc tương lai — đều do chính phủ tài trợ

    • Tôi đồng ý với bản chất lai công-tư của Bell Labs
      Tôi cũng muốn hỏi liệu có thể tái hiện DARPA, một hình mẫu khác trong lĩnh vực này, như thế nào. Tất nhiên DARPA hiện vẫn vận hành tốt, nhưng chẳng hạn liệu có thể lập thêm một DARPA khác ở châu Âu không? Nhiệm vụ của hai tổ chức khác nhau; DARPA chủ yếu là nhà đầu tư, còn Bell Labs chủ yếu là bên thực thi. Câu hỏi tự nhiên nảy sinh là tại sao Bell Labs suy thoái còn DARPA thì không
    • Altos Labs chuyên về chống lão hóa và kéo dài tuổi thọ, một chủ đề cực kỳ phức tạp, nhưng được vận hành hoàn toàn bằng vốn tư nhân
      Bezos cũng có thể nhìn xa 20 năm, và ông ấy không muốn chết
  • Tôi là người cuối cùng trong số họ hàng của William Shockley được nhắc trong bài vẫn còn làm trong ngành
    Tôi thích cách bài viết mô tả rằng ông ấy đã thành công trong việc giải các bài toán mở, miễn là chúng phù hợp với định hướng của công ty. Cá nhân tôi chưa từng nghĩ về mối liên hệ như vậy giữa chúng tôi, nhưng nó cộng hưởng với cách tôi đã tìm thấy thành công trong sự nghiệp của mình và hiện vẫn đang thành công. May mắn là nhiều niềm tin của tôi về cách nhìn thế giới khá khác với ông ấy

  • Ai cũng nói về độc quyền, nhưng cũng không nên quên áp lực phải làm điều tốt và áp lực phải tỏ ra như đang mang lại công nghệ mới. Mọi người phải trả nhiều tiền để thuê điện thoại từ Ma Bell, lại còn phải chịu các hạn chế về việc được kết nối thứ gì vào đường dây điện thoại, nên họ rất bất mãn
    Bell Labs là một chiến dịch PR tốn kém, nhưng chắc chắn cũng là một chiến dịch tốt. Tôi thích cách giải thích hoài nghi hơn về lý do ban lãnh đạo muốn duy trì Bell Labs. Như những người khác đã nói, nó cũng có tác dụng quản lý lợi ích được cảm nhận và tránh chống độc quyền

  • Cần những gì? Cần hai cuộc thế chiến và một cuộc Chiến tranh Lạnh kéo dài giữa hai “siêu cường”
    Việc Chiến tranh Lạnh kết thúc kéo theo sự chấm dứt nhu cầu tập thể đối với các thực thể bán quốc gia được kiểm soát chặt chẽ như AT&T không có gì đáng ngạc nhiên. Tôi nghĩ câu hỏi thật sự là: “Ngày nay, làm sao có thể tái tạo một dạng trừu tượng của nó bằng các thành phần phân tán gắn với Internet?” Nói cách khác là: “Lời hứa mà Internet từng có ở giai đoạn đầu, khi nó chủ yếu chỉ khả thi thông qua các trường đại học, đã đi đâu rồi?”

    • Cá nhân tôi cho rằng nguyên nhân đơn lẻ của sự sa sút là doanh thu quảng cáo. Việc kiếm tiền từ website/app/sản phẩm theo cách gián tiếp này là nguồn gốc của phần lớn, thậm chí có thể là toàn bộ, các đặc tính phát sinh tiêu cực của phần mềm và sản phẩm hiện đại
      Khi tập trung vào sự chú ý thay vì chất lượng, sẽ có động cơ trực tiếp để dùng những thứ như dark pattern và các tính năng gây nghiện
  • Tôi nghĩ mức thuế suất biên cao nhất trong thập niên 1960–1970 có lẽ đã tạo động lực cho nhiều công ty tái đầu tư lợi nhuận vào R&D. Làm vậy có thể tránh mức thuế cao đánh vào phần lợi nhuận đó, và theo tôi biết chi tiêu R&D cũng được khấu trừ thuế
    Ví dụ có bài này: https://slate.com/business/2012/07/xerox-parc-and-bell-labs-...