- Windows 2000 là một ví dụ cho thấy những ưu điểm của giao diện người dùng thời Windows 3.0~2000, với nền đơn sắc, biểu tượng có nhãn, nút Start và phông chữ rõ nét giúp phân biệt rành mạch các thành phần trên màn hình
- Start Menu và Explorer dùng các nút đang được nhấn, mũi tên, tooltip, cấu trúc cây và các biểu tượng khác nhau để bộc lộ ngay vị trí hiện tại và khả năng thao tác
- WordPad và các cửa sổ cài đặt lặp lại việc sử dụng nút, tay nắm, vùng nhập liệu, màu chọn, tab và khung nhóm tùy chọn, giúp người dùng tái sử dụng các tín hiệu thị giác đã học một lần trên toàn bộ hệ điều hành
- Các vùng có thể cuộn luôn hiện thanh cuộn, còn các tùy chọn toàn cục thì mở trong cửa sổ mới có tab, không dựa vào các thao tác bị ẩn hay việc so sánh cỡ chữ
- Windows 2000 SP4 có thể dùng được ngay cả trên Pentium 133, RAM 64MB và ổ cứng quay, đồng thời có thể chạy offline mà không cần Product Activation, nhưng giao diện sau này lại đi theo hướng loại bỏ tín hiệu thị giác
Cấu trúc nền tảng rõ ràng ngay từ màn hình đầu tiên
- Windows 2000 là một ví dụ tiêu biểu cho kỷ nguyên giao diện kéo dài từ Windows 3.0 đến 2000
- Windows 2000 được chọn làm ví dụ trung tâm vì chạy tốt trên QEMU/KVM, nên dễ chụp ảnh màn hình
- Sau lần khởi động đầu tiên, màn hình cho thấy nền đơn sắc không rối mắt, các biểu tượng desktop có nhãn, nút Start và biểu tượng Quick Launch, các biểu tượng khay hệ thống và thanh tác vụ có đồng hồ
- Kết xuất phông chữ sắc nét và rõ ràng, và trên màn hình CRT còn trông mượt hơn
Tín hiệu điều hướng trong Start Menu và Explorer
- Nút Start khi nhấn sẽ chuyển sang trạng thái bị nhấn xuống như một nút thật, nên có thể thấy ngay nó có đang kích hoạt hay không
- Nút bấm là một khái niệm quen thuộc ngoài đời thực, như nút nguồn của PC, nên người dùng dễ hiểu cách tương tác
- Mũi tên nhỏ trong Start Menu cho biết có menu con, còn khi rê chuột lên mục không có mũi tên thì sẽ hiện tooltip giải thích chức năng đó
- Menu giữ lại đường dẫn đến mục hiện tại trên màn hình, qua đó hiển thị trực quan cấu trúc cây
- Không phải kiểu một phần mở ngay tại chỗ khiến người dùng phải tự nhớ vị trí trước đó
- Các biểu tượng khác nhau về màu sắc và hình dạng, nên có thể nhanh chóng tìm mục bằng khác biệt thị giác thay vì phải đọc chữ
- Windows Explorer có thể bị chê ở chế độ xem mặc định, nhưng nếu đổi thiết lập hiển thị thì bên phải sẽ hiện thư mục và tệp trong một bảng gọn gàng, còn bên trái là cây điều hướng
- Việc ẩn phần mở rộng tệp được xem là một trong những sai lầm lớn của lịch sử máy tính
- Các biểu tượng thể hiện loại tệp nhất quán trên toàn bộ hệ điều hành
- Explorer của Windows 95 còn được đánh giá là tốt hơn ở chỗ ít trộn lẫn thư mục ảo hơn
Sự nhất quán do nút, tab và khung tạo nên
- Trong WordPad, hầu hết các thành phần có thể tương tác được phân biệt bằng nút bấm, tay nắm, nền trắng và nền xanh khi được chọn
- Phần nền còn lại của cửa sổ là màu xám hơi ngả cam, nên khác biệt rõ với vùng có thể thao tác
- Khi đã học mẫu này một lần, người dùng sẽ gặp lại nó lặp đi lặp lại trên toàn hệ điều hành
- Màu sắc không chỉ khác nhau vài cấp độ nhỏ mà khác biệt rõ ràng, trong khi tổng thể phối màu vẫn cân bằng
- Không quá trắng hay đen hẳn, màu không quá giống nhau và độ tương phản là phù hợp
- Ngay cả các hộp thoại hệ thống cơ bản như thiết lập desktop cũng dùng cùng một phong cách UI và cùng các tín hiệu thị giác
- Các tab phía trên có hiệu ứng dập nổi 3D (relief), nên có thể nhận ra đó là thành phần có thể bấm
- Các vùng có thể cuộn luôn hiển thị thanh cuộn
- Ngay cả thời màn hình 800x600 là phổ biến, chúng cũng không bị ẩn đi với lý do tiết kiệm không gian
- Người dùng không cần rê chuột hay bấm thử vẫn biết ngay vùng đó có thể cuộn hay không
- Các tùy chọn toàn cục của chương trình tuân theo một mẫu dễ đoán: cửa sổ mới có tab
- Ngay cả trong một tab, các tùy chọn liên quan cũng được gom trong khung để người dùng nhìn thoáng là biết cùng một nhóm
- Điều này đối lập với các cửa sổ cài đặt hiện đại, nơi người dùng phải so sánh cỡ chữ để đoán tùy chọn nào thuộc cùng nhóm
Hiệu năng trên cấu hình thấp và cách sở hữu sản phẩm
- Windows 2000 SP4 chạy được, dù hơi chậm, trên Pentium 133, RAM 64MB và ổ cứng quay
- Cấu hình này đúng với yêu cầu tối thiểu của Windows 2000
- Nếu chạy trên Pentium 2 hoặc Pentium 3 ra mắt năm 1999 thì hệ điều hành hoạt động rất nhanh
- Pentium 133 vào thời điểm Windows 2000 ra mắt đã là CPU cũ khoảng 4~5 năm, một quãng thời gian rất dài theo tiêu chuẩn khi đó
- Để đạt hiệu năng tốt trên hệ thống chậm cần có sự rà soát kỹ lưỡng và đôi khi là đánh đổi
- Windows 2000 là sản phẩm có trước Product Activation, nên chạy hoàn toàn offline và đến nay vẫn dùng được
- Windows 2000 kết hợp một hệ điều hành nhanh với nhân NT, một giao diện rõ ràng và gọn gàng, cùng tính chất là sản phẩm được mua đứt chứ không phải đăng ký thuê bao
Những tín hiệu đã biến mất trong giao diện về sau
- Hộp thoại Welcome ở lần khởi động đầu tiên của Windows 2000 cho thấy những dấu hiệu sớm của phong cách UI về sau
- “Jetzt registrieren” và “Windows entdecken” trông giống văn bản, không có hiệu ứng dập nổi 3D
- “Beenden” cũng không phải nút bấm truyền thống mà đã có dạng phẳng
- Tín hiệu duy nhất cho thấy “Jetzt registrieren” có thể tương tác là chữ “J” được gạch dưới, biểu thị phím tắt
- Các biểu tượng thanh công cụ của Explorer trên Windows 95 trông như những nút bấm thật, nhưng trên Explorer của Windows 2000 thì ở trạng thái mặc định chúng không hiện rõ là nút và phải rê chuột lên mới nhận ra
- Giao diện về sau tiếp tục xu hướng loại bỏ tín hiệu thị giác, và ngày nay ngày càng khó biết thành phần nào trên màn hình là có thể tương tác
- Trong môi trường phẳng hoàn toàn như UI trên smartphone, người dùng rơi vào tình huống phải bấm thử ngẫu nhiên mọi thứ trên màn hình
- Người ta đánh giá rằng chính cảm giác mong đợi các tín hiệu thị giác rõ ràng và nhất quán cũng đã biến mất
- Không nên né tránh bevel, relief, đường kẻ và khung chỉ vì chúng khiến giao diện trông giống Windows 95; các ẩn dụ vật lý quen thuộc như nút bấm, tay cầm hay dấu chọn ngoài đời thực vẫn rất hữu ích cho UI
1 bình luận
Ý kiến trên Lobste.rs
Đoạn nói rằng mô phỏng đồ vật ngoài đời thực cũng tốt, rồi bảo những thứ như “slider” trên Android thì chẳng có cái nào trong nhà nên cứ làm thành checkbox giống dấu tích ✔️ trên giấy, nghe khá bất ngờ
Dù trong nhà không có nhiều công tắc trượt, nhưng rõ ràng vẫn có ở chuột và bàn phím không dây, loa thông minh, bộ hẹn giờ để bàn, v.v.
Ngay cả bộ hẹn giờ nhà bếp cũng có các công tắc riêng cho độ sáng và âm lượng
Cần mở rộng định nghĩa công tắc gạt để bao gồm cả thanh trượt riêng tư của camera laptop hay USB flash drive dạng thu gọn, nhưng vẫn có những món đồ hoạt động tương tự như vậy
Có lẽ tác giả điền biểu mẫu giấy nhiều hơn mình
Một ví dụ với XFCE là dự án Chicago95
Thú vị là nó phổ biến hơn mình tưởng rất nhiều, với 5,8 nghìn sao trên GitHub và lần commit gần nhất là 13 giờ trước
Nếu như vậy vẫn chưa đủ kỳ lạ, còn có cả một ứng dụng Python tên là “Plus” để cài các theme Microsoft Plus! gốc từ những file
.themecũKiểu gắn bó mang tính sùng bái với UI cũ như thế này ngày nay khá dễ hiểu, vì diện mạo của nó giữ nguyên suốt nhiều năm và cách người dùng tương tác cũng vậy
Cứ nghĩ xem ở các môi trường desktop hiện đại có bao nhiêu thứ thay đổi mỗi khi lên phiên bản mới. Mỗi thay đổi nhỏ đều đòi hỏi thêm nỗ lực nhận thức chỉ để làm lại việc hôm qua vẫn làm, và khi những thứ nhỏ đó cộng dồn lại thì thành chuyện lớn
Chúng ta đã đánh đổi tính dễ dùng lấy thứ hào nhoáng bắt mắt, và kết quả là năng suất thoái hóa
Thường thì nó nhanh hơn cả về sử dụng lẫn truyền tải và render so với Cinnamon, thứ mình hay dùng khi ngồi trực tiếp trước máy đó
Hồi đó mình làm tư vấn, xử lý rất nhiều việc trong môi trường này; nó ổn định hơn 98 và lanh lẹ hơn NT4 rất nhiều. Thêm nữa là không có Windows Product Activation
Có thể boot nó bằng VM khá dễ để tự bấm thử cảm giác như một bản bẻ hướng nhẹ từ thiết kế gốc
UI nhất quán, phần tử đang được chọn luôn rõ ràng, và có thể kích hoạt bằng phím cách
Nút mặc định được hiển thị rõ ràng sẽ chạy bằng Enter, còn hủy thì thường gắn với Esc
Phím tắt được hiển thị rõ ràng bằng chữ cái gạch chân, còn các phím chức năng được gán cho những thao tác phổ biến nhất
Để làm ra một ứng dụng Windows có khả năng sử dụng tốt thì phía lập trình viên vẫn cần bỏ công tránh xung đột phím tắt các kiểu, nhưng hồi đó đó là tiêu chuẩn
Sự thay đổi bắt đầu từ những chỉnh sửa UI nhỏ ở Win98/2k, và từ đó về sau mọi thứ còn tệ hơn