2 điểm bởi GN⁺ 2025-09-15 | 2 bình luận | Chia sẻ qua WhatsApp
  • Theo các nghiên cứu gần đây, tác động của mạng xã hội đối với phân cực chính trị sâu và phức tạp hơn nhiều so với cách đo lường đơn giản
  • Nội dung mang tính cực đoan về cảm xúc lan truyền mạnh hơn trên mạng xã hội, và điều này thực sự ảnh hưởng tới hành vi chính trị ngoài đời thực
  • Các thí nghiệm và dữ liệu cho thấy mạng xã hội không vận hành giống nhau ở mọi nhóm tuổi hay mọi quốc gia, và các “hiệu ứng lan tỏa” gián tiếp là cực kỳ lớn
  • Hiện tượng những người có ảnh hưởng chính trị và các nhóm tinh hoa bóp méo dư luận qua mạng xã hội, đồng thời kích hoạt suy nghĩ và hành động cực đoan, tức hiện tượng “cực đoan hóa tầng lớp tinh hoa”, đã được xác nhận
  • Nhìn chung, việc chỉ dựa vào mức ủng hộ đảng phái hay các chỉ số phân cực truyền thống để diễn giải giảm nhẹ ảnh hưởng của mạng xã hội là không chính xác

1. Mở đầu

  • Triết gia Dan Williams gần đây cho rằng các chỉ trích nhắm vào mạng xã hội đã bị phóng đại, nhưng tác giả lại lập luận rằng các vấn đề của mạng xã hội thực ra còn đang bị đánh giá thấp
  • Bài viết này tập trung khảo sát ảnh hưởng chính trị của mạng xã hội, đặc biệt là tác động của nó đối với phân cực chính trị
  • Williams cho rằng có nhiều phần về mạng xã hội đã bị hiểu sai hoặc phóng đại, nhưng tác giả dựa trên nhiều bằng chứng và nghiên cứu để lập luận rằng tác động của nó trên thực tế nghiêm trọng hơn nhiều
  • Bài viết xem xét trọng tâm các hiệu ứng nguy hiểm và kích động đối với nền chính trị đại chúng ở Mỹ, đồng thời cho biết những vấn đề quen thuộc như 'thông tin sai lệch' và 'thuyết âm mưu' cũng có một số khía cạnh bị phóng đại
  • Williams đưa ra 4 phản biện chính về phân cực (xu hướng lịch sử, tác động ở người cao tuổi, khác biệt giữa các quốc gia, hiệu ứng rất nhỏ trong nghiên cứu thực nghiệm), nhưng tác giả chỉ trích rằng các căn cứ này không đủ sức thuyết phục, và tác hại thực chất của mạng xã hội cần được đánh giá trong một góc nhìn rộng hơn

2. Lập luận của Williams và phần xem xét phản biện

4 phản biện chính của Williams

  • Phân cực cảm xúc đã tăng lên từ rất lâu trước khi mạng xã hội xuất hiện
  • Trong nhóm người cao tuổi từ 65 trở lên, vốn là nhóm dùng mạng xã hội ít nhất, mức độ phân cực lại tăng mạnh hơn trong những năm gần đây
  • Dữ liệu từ 12 nước OECD cho thấy mô hình phân cực chính trị khác nhau giữa từng quốc gia, nên ảnh hưởng của mạng xã hội không mang tính nhất quán
  • Nhiều nghiên cứu thực nghiệm chất lượng cao cho thấy tác động của việc sử dụng mạng xã hội lên mức độ phân cực của cá nhân là rất nhỏ hoặc không có

“Thật sự là vậy sao?”

  • Dữ liệu về giai đoạn smartphone và mạng xã hội trở nên phổ biến từ thập niên 2010 còn thiếu, và ngay cả bộ dữ liệu toàn diện nhất cũng chỉ được thu thập vào các năm bầu cử tổng thống nên chưa đủ
  • Ngay cả khi so sánh xu hướng phân cực giữa các quốc gia, số điểm dữ liệu sau năm 2010 ở mỗi nước cũng rất ít
  • Chỉ dựa vào khác biệt ở các điểm phân kỳ dữ liệu thì khó có thể bác bỏ tác động tiêu cực của mạng xã hội
  • Nghiên cứu về sự gia tăng phân cực ở người cao tuổi (Boxell, Gentzkow, and Shapiro 2017) cũng thừa nhận rõ khả năng tồn tại các tác động gián tiếp như hiệu ứng lan tỏa
    • Có cơ chế mà sự phân cực do giới trẻ sử dụng mạng xã hội sẽ được truyền sang người cao tuổi thông qua truyền thông truyền thống hoặc các chương trình nghị sự chính trị
    • Những tác động gián tiếp này tất yếu xảy ra nếu xét đến bản chất xã hội vốn có của mạng xã hội
  • Các nghiên cứu thực nghiệm cá nhân hóa (ví dụ: thay đổi thiết kế feed, vô hiệu hóa mạng xã hội) không thể cho thấy các hiệu ứng dài hạn và mang tính tập thể đối với toàn xã hội
    • Sự hình thành thái độ chính trị liên tục chịu ảnh hưởng qua nhiều con đường khác nhau (gia đình, truyền thông sẵn có, cộng đồng xã hội, v.v.)
    • Đặc biệt vào các thời điểm sự kiện như ngay trước bầu cử, phơi nhiễm gián tiếp vẫn tác động rất mạnh
  • Kết luận lại, để diễn giải sức ảnh hưởng mang tính tập thể của mạng xã hội, cần tính đến cấu trúc tương tác và lan truyền trên diện rộng, thay vì chỉ dựa vào các thí nghiệm tách biệt

3. “Vậy thì sao?”

  • Ngay cả khi lập luận kiểu Williams là đúng, kết luận cũng chỉ dừng ở mức bất định, và chúng ta vẫn cần cảnh giác với tác hại chính trị của mạng xã hội
  • Phân cực không phải là chỉ số duy nhất để xác định tác hại của mạng xã hội; còn có những bằng chứng rộng hơn và thuyết phục hơn
  • Khuếch đại nội dung cực đoan về cảm xúcmối tương quan giữa tỷ lệ phổ cập mạng xã hội theo khu vực với hành vi chính trị (biểu tình, tội phạm thù ghét) là những ví dụ tiêu biểu
  • Tác giả tổng hợp điều này thành “lý thuyết cực đoan hóa tầng lớp tinh hoa (elite radicalization theory)”

3.1. Lý thuyết cực đoan hóa tầng lớp tinh hoa

  • Hiện tượng nội dung có cảm xúc mạnh hoặc tiêu cực lan truyền rộng và nhanh hơn rất nhiều so với nội dung trung tính trên mạng xã hội đã được chứng minh rõ qua nghiên cứu
    • Cách biểu đạt “phẫn nộ đạo đức (moral anger·disgust)” làm tăng mạnh khả năng lan truyền của nội dung
    • Thiên kiến tiêu cực (negativity bias) của con người và thiên hướng chú ý tới kích thích tiêu cực được khuếch đại tối đa trên môi trường trực tuyến
    • Vì thế hình thành một môi trường nơi “doanh nhân chú ý” hoặc người có ảnh hưởng chính trị sản xuất hàng loạt nội dung tiêu cực để đổi lấy độ nổi tiếng và thu nhập
  • Trong vài năm gần đây, tập hợp những người có ảnh hưởng chính trị do mạng xã hội tạo ra (chính trị gia, nhà báo, người nổi tiếng, v.v.) đã thực thi ảnh hưởng quá mức lên thị trường truyền thông chính trị
    • Một bộ phận rất nhỏ người dùng tần suất cao và cực đoan (top 3~10%) tạo ra phần lớn toàn bộ diễn ngôn chính trị, và quan điểm của họ trông cực đoan hơn nhiều so với dân số Mỹ thực tế
    • Kết quả là công chúng nói chung nhận thức những người xung quanh mình cực đoan và đầy giận dữ hơn rất nhiều so với thực tế, từ đó tạo thành một lời tiên tri tự hoàn thành
  • Nhiều nghiên cứu xác nhận rằng việc tiếp xúc với biểu đạt cực đoan trên mạng làm gia tăng hành vi thực tế của cá nhân (đăng bình luận tiêu cực sau sự kiện, biểu đạt giận dữ, v.v.)
    • Điều này dẫn tới nhiều vấn đề xã hội nghiêm trọng như lan rộng sự thù ghét “outgroup” trên mạng xã hội, thuyết âm mưu, và các diễn ngôn bản sắc cực đoan
  • Theo lý thuyết này, mạng xã hội không cực đoan hóa toàn bộ công chúng sẵn có, mà cực đoan hóa và làm quá khích một nhóm tương đối nhỏ thuộc tầng lớp tinh hoa/người có ảnh hưởng, rồi để họ phân phối hàng loạt những tín hiệu kích thích và thiên lệch
    • Những người này ảnh hưởng tới người bình thường và cả các tầng lớp tinh hoa khác, từ đó bóp méo chính sự tự nhận thức tập thể của xã hội
  • Khả năng áp dụng vào hành vi thực tế cũng cao: nghiên cứu gần đây (Rathje et al. 2025) xác nhận rằng khi bỏ theo dõi những influencer cực đoan, mức cảm xúc thù địch với phe đối lập chính trị giảm đi trong nhiều tháng
    • Tức là phía cung ứng (influencer/người phân phối chính trị) thực sự thay đổi thái độ tâm lý xã hội của người theo dõi
  • Sự lan rộng của thái độ cực đoan không chỉ dừng ở “nhiễu” trực tuyến đơn thuần, mà còn có ảnh hưởng rõ rệt tới hành vi chính trị ngoài đời thực (biểu tình, tội phạm thù ghét, v.v.)
    • Có nhiều nghiên cứu quasi-thực nghiệm cho thấy ở các thành phố hoặc quốc gia có tỷ lệ sử dụng mạng xã hội cao, tỷ lệ tội phạm thù ghét, biểu tình và ủng hộ các đảng cực đoan thực sự cũng cao hơn
    • Những kết quả này không bị giới hạn ở một quốc gia hay bối cảnh cụ thể, mà được quan sát nhất quán ở nhiều nước trên thế giới (Nga, Ý, Đức, Mỹ, v.v.)
  • Đặc biệt, mạng xã hội cũng gắn với các làn sóng cực đoan hóa chính trị như chủ nghĩa dân túy cực hữu, phong trào MAGA
    • Tuy vậy, nó cũng có thể giải thích sự trỗi dậy của chính trị cánh tả cấp tiến, vì cả cánh tả lẫn cánh hữu đều thu được lợi ích huy động riêng trong cấu trúc sản xuất nội dung tiêu cực

3.2. Phân cực đảng phái và cực đoan hóa tầng lớp tinh hoa

  • Lý thuyết này không nhất thiết đi theo logic rằng mạng xã hội chỉ củng cố sự ủng hộ đảng phái bị chia đôi
    • Các influencer trên mạng xã hội thường vượt ra ngoài logic hai đảng, nhấn mạnh các thông điệp dân túy hoặc phi đảng phái
    • Vì vậy, ngoài đời thực có thể đồng thời xuất hiện hiện tượng lòng trung thành với đảng Dân chủ/Cộng hòa suy yếu hoặc số người độc lập gia tăng
  • Sự gia tăng khối cử tri độc lập, bất tín nhiệm với cả hai đảng và mâu thuẫn nội bộ ngày càng sâu sắc ở Mỹ thời gian gần đây cũng có thể được diễn giải như hệ quả của tác động làm gia tăng cảm xúc từ mạng xã hội
  • Cuối cùng, ảnh hưởng có hại của mạng xã hội có thể được tóm lược không phải là sự gia tăng thù ghét giữa các đảng cụ thể (affective polarization), mà là sự gia tăng cường độ cảm xúc chính trị nói chung (affective intensity) và sự thay đổi hành vi xã hội do đó gây ra
  • Điều này cho thấy các phương thức đo lường kiểu kỹ trị chính trị (phân cực chính sách) có nguy cơ đánh giá thấp tác động thực chất của mạng xã hội

5. Kết luận

  • Xét trên hai phương diện động cơ sản xuất nội dung tiêu cực, giật gân và việc kéo theo hành vi chính trị cực đoan, mạng xã hội đã biến đổi nghiêm trọng môi trường chính trị của Mỹ cũng như nhiều quốc gia khác trong 15 năm gần đây
  • Các nhóm tinh hoa như influencer chính trị đã dẫn dắt sự thay đổi dư luận và nhận thức xã hội một cách mang tính đột phá thông qua mạng xã hội
  • Dù như Williams nói, các chỉ số phân cực có thể không tăng vọt, nhưng sự gia tăng của giận dữ, sợ hãi, diễn ngôn chính trị dựa trên bản sắc và các vụ bạo lực chính trị là điều hiện ra rõ ràng
  • Những thay đổi này không nhất thiết phải được xem hoàn toàn là quan hệ nhân quả trực tiếp từ mạng xã hội, nhưng vẫn duy trì mối liên hệ sâu sắc với sự trỗi dậy của phong trào MAGA (Trump) và nhiều hình thức chính trị cực đoan tiến bộ/bảo thủ khác
  • Trong tương lai, nếu không chẩn đoán rõ tác động của cuộc cách mạng truyền thông số lên toàn bộ cấu trúc xã hội, nguy cơ đánh giá thấp rủi ro xã hội sẽ rất lớn, và cần có một sự xem xét cân bằng về tác động của công nghệ

2 bình luận

 
ndrgrd 2025-09-15

Có lẽ xu hướng đó sẽ ít hơn ở những nơi có thể tự do nói ra ý kiến phản đối, và sẽ mạnh hơn ở những nơi ám ảnh với "mối quan hệ".

 
GN⁺ 2025-09-15
Ý kiến trên Hacker News
  • Nếu những lập luận phản đối mạng xã hội thực sự mạnh đến vậy, tôi thấy có lẽ đã không có các cuộc tranh luận diễn ra ở những nơi như substack. Hiện giờ có quá nhiều thứ không ổn. Mạng xã hội cho phép chúng ta trực tiếp nhìn thấy thực tại đó. Chỉ đơn giản nối các tương quan với hệ tư tưởng cá nhân thì khác với việc tìm ra quan hệ nhân quả. Vì mạng xã hội quá rộng lớn và phức tạp, tôi nghĩ chắc chắn có tác hại tồn tại trong đó. Khả năng mọi yếu tố lúc nào cũng tác động theo hướng tích cực là rất thấp. Những cuốn sách nhắm vào công chúng đang lo lắng thường chọn lọc một vài nghiên cứu nhất định, và điều đó có thể tạo ra dư luận tách rời dữ liệu. Có tác giả viết sách để trình bày ý tưởng, nhưng những người như Jonathan Haidt dường như tập trung hơn vào việc thuyết phục thật nhiều người theo hệ tư tưởng của mình. Dạo này ngày càng lan rộng quan niệm rằng góc nhìn chính là hiện thực. Nếu thuyết phục được đủ nhiều người thì nó trở thành sự thật. Tôi hoàn toàn sẵn sàng thừa nhận mặt tiêu cực của mạng xã hội. Nếu chỉ ra rõ ràng “lý do” và “cách thức”, có lẽ ta có thể giải quyết từng vấn đề. Nhưng phủ định tất cả một cách vô điều kiện thì ngược lại còn cản trở cải thiện. Khi nhiều vấn đề rất khác nhau đều bị nói là xấu như thể chỉ do ngẫu nhiên, tôi bắt đầu nghi ngờ rằng có một cơ sở ngầm nào đó chưa được chứng minh, hoặc thông tin đang được trình bày theo hướng thiên lệch

    • Chủ đề này không chỉ được bàn trên substack. Nó đã bị tranh luận trên toàn thế giới suốt 10 năm qua. Ví dụ, Australia giới hạn độ tuổi dùng mạng xã hội ở mức 16, còn Pháp là 15. Trường học và cả quốc gia đang thử nhiều kiểu cấm điện thoại khác nhau. Cũng có cáo buộc rằng những người tố giác nội bộ cho biết Facebook đã che giấu nghiên cứu vì lo ngại nghiên cứu của chính họ sẽ cho thấy tác hại. Về mặt cá nhân, mỗi người cũng nên tự hỏi liệu mình có đang dành quá nhiều thời gian cho mạng xã hội hay không
    • Tôi cho rằng bản thân việc tuyển chọn nội dung bằng thuật toán đã có hại, và mức độ còn tệ hơn khi bị lợi ích doanh nghiệp hay chính trị làm ô nhiễm. Chúng ta nói chuyện về vấn đề nào, tiếp nhận ý kiến ra sao, và diễn giải thông tin qua phản ứng của người khác. Thuật toán phá vỡ dòng chảy thông tin truyền thống đó. Cách lan truyền thay đổi, còn cách diễn giải vẫn giữ nguyên. Trong trường hợp xấu nhất, điều này có thể dẫn tới hậu quả nghiêm trọng
    • Chủ đề này cũng đang được báo chí truyền thống đưa tin ngày càng nhiều, nên tôi nghĩ có thể bỏ qua câu đầu tiên. Việc ngày càng nhiều người nói rằng mạng xã hội là một khoản lỗ ròng đối với xã hội chính là khởi đầu của thay đổi. Cách tiếp cận học thuật kiểu “hãy đánh giá từng vấn đề riêng lẻ” không tạo ra được động lực chính trị cho các vấn đề như thế này. (Hoặc cũng có thể xem “social media” thời Facebook chỉ là một phần của “internet”, và việc chỉ ra vấn đề ở một khu vực trong đó cũng là hợp lý)
    • Với ý kiến rằng nếu xác định rõ cái xấu của mạng xã hội thì có thể cải thiện được, tôi nghĩ chỉ riêng thực tế rằng các công ty cố tình thiết kế mạng xã hội để tối đa hóa tính gây nghiện cũng đã đủ là vấn đề. Cũng như với thuốc lá điện tử, ta không cần phải mổ xẻ từng thành phần có hại mới quyết định có nên cấm hay không; tôi cho rằng cấm mạng xã hội cho trẻ em thì có thể là quá tay, nhưng cấm điện thoại trong trường học thì không nên là chuyện gây tranh cãi
    • Tôi không nghĩ cần lập luận quá phức tạp. Cái gì gây nghiện thì có hại, và mạng xã hội đang được thiết kế theo hướng ngày càng gây nghiện hơn. Càng gây nghiện thì càng có hại. Trẻ em lại càng dễ tổn thương hơn. Nhìn từ đó, nếu không có phản chứng đặc biệt nào thì khả năng cao mạng xã hội là có hại
  • Nếu là chính trị gia, tôi cần mọi người bỏ phiếu cho mình, và tôi có một tệp ủng hộ cốt lõi nên những người đó vốn đã đứng về phía tôi. Tôi cố không làm xa lánh quá nhiều người còn lại, đồng thời giành lấy một phần cử tri trung dung để tiến gần mốc 50%. Ngược lại, nếu là influencer thì tôi cần engagement. Chỉ cần 10% tổng số người là cũng đủ sống được, và vì phải giữ sự chú ý của họ liên tục nên thông điệp luôn được đẩy theo hướng kích động

    • Gần đây tôi thấy vế đầu dường như không còn đúng nữa. Ở Mỹ và Tây Âu, mức độ phân cực ngày càng tăng, kéo theo ngôn từ và chính sách cực đoan hơn trong chính trường. Điều này khiến tôi nghĩ rằng có lẽ chính trị gia hay đảng phái đang tập trung vào engagement của nhóm ủng hộ cực đoan hơn là cử tri trung dung
    • Tôi không đồng ý. Các đảng chính thống rõ ràng vẫn nhắm tới cử tri trung dung, nhưng các đảng nhỏ thường có lợi hơn khi đại diện cho lập trường cực đoan. Những người có niềm tin mạnh thường đi bầu đều hơn, và lập trường cực đoan cũng dễ gây chú ý hơn
    • Tôi nghĩ đây là cách tóm tắt khá thú vị cho luận điểm của bài viết. Nó nhấn mạnh cách con người sử dụng mạng xã hội tùy theo bản sắc nhóm, nhưng điều thực sự quan trọng là mạng xã hội tác động thế nào đến diễn ngôn xã hội của chúng ta
    • Việc ngày càng có nhiều người bỏ phiếu để ứng phó biến đổi khí hậu cho thấy có đủ đông công chúng để ngay cả thông điệp rằng họ cần cắt giảm lối sống của mình cũng có thể trở thành một chủ đề trọng tâm của đảng phái
  • Điều khó nhất trong các tranh luận phản đối công nghệ và mạng xã hội là ta gần như buộc phải tưởng tượng một phảnfực lịch sử (counterfactual) kiểu “nếu thứ đó không tồn tại thì thế giới đã khác ra sao”. Ví dụ, nếu không có ứng dụng hẹn hò trực tuyến thì không chỉ là hiện tại y như bây giờ trừ việc thiếu app, mà có thể đã xuất hiện những hình thức giao lưu khác, mang tính địa phương hơn và lành mạnh hơn. Gần đây tôi ít quan tâm tới kiểu lập luận rằng một thế giới tốt đẹp hơn là có thể xảy ra nếu mọi người không dành hàng giờ trên mạng xã hội, mà tập trung hơn vào thực tế rằng mạng xã hội là một “hàng thay thế cho kết nối xã hội” chỉ nhằm bán sản phẩm cho tất cả mọi người. Có vẻ đa số đều đồng ý ở điểm này

  • Tôi cho rằng vấn đề nằm ở mạng xã hội “dựa trên thuật toán”, tức dạng được thiết kế với mục tiêu cốt lõi là engagement

    • Gần đây tôi mới biết TikTok có tính năng tên là “Streak Pets”. Đây là chiến lược biến chính hoạt động gây nghiện dopamine thành một trò chơi để tối đa hóa engagement. Tôi có thể hình dung các cuộc họp nhóm trong TikTok cứ lặp đi lặp lại chuyện làm sao khiến người dùng ở lại lâu hơn bất chấp việc não họ đã mệt mỏi vì dùng app
    • “Engagement” ở đây rốt cuộc chỉ là cách nói khác của tối đa hóa số lần hiển thị quảng cáo. Một khi tối ưu doanh thu quảng cáo, nền tảng sẽ chỉ giữ lợi nhuận cho mình và ngừng quan tâm đến người dùng
  • Trước đây tôi từng dính Facebook hơn 4 tiếng mỗi ngày. Tháng 11 năm ngoái tôi chạm ngưỡng chịu đựng và cắt hẳn mạng xã hội. Facebook thì vô hiệu hóa, Twitter thì xóa hẳn tài khoản, app LinkedIn cũng xóa, trên desktop chỉ dùng extension chặn newsfeed và chỉ xem tin nhắn. Tôi cũng xóa app Google, Chrome, Youtube trên di động và chỉ truy cập nhanh bằng Safari ở chế độ riêng tư. Chỉ cần dọn app khỏi điện thoại là tôi bỏ được khá dễ, không có triệu chứng cai, không hề thấy tiếc và chất lượng cuộc sống tốt hơn rất nhiều. HN thì tôi chỉ vào thỉnh thoảng nên cũng không thấy có tính gây nghiện

    • Một mẹo nhỏ là trên Firefox mobile, dùng Leechblock có thể dễ dàng chặn thói quen đi vòng quanh các website như một phản xạ thường nhật. Có kiểu “trí nhớ cơ bắp” khiến ta vô thức mở các trang độc hại đó, nên cứ chặn luôn
    • Nhưng tôi nghĩ việc từng cá nhân rời đi đôi khi lại có thể khiến toàn hệ thống tệ hơn. Dân số còn lại trên mạng xã hội có thể trở nên cực đoan hơn nữa. Nếu một người dễ bị kích động thì tôi ủng hộ việc họ rời đi, nhưng nếu những người bình tĩnh hơn lại rút lui thì có thể còn nguy hiểm hơn
  • Tôi cũng từng tự làm một thí nghiệm cai mạng xã hội không chính thức theo cách của mình, và kết quả là tâm trạng tốt lên rất nhiều. Tôi không cần thêm dữ liệu nào khác

    • Tôi cũng vậy. Ngay cả khi xem tin tức buồn, nếu không có vòng lặp thông báo và bình luận liên miên từ mạng xã hội thì tôi không bị cuốn vào vòng xoáy lo âu. Chỉ cần thấy chán là tôi tắt đi và giữ khoảng cách. Từ sau 2016 tôi đã bỏ hẳn Facebook, và điều còn lại chỉ là cảm giác mình biết ít thông tin hơn. Sau đó tôi dần dần bỏ cả forum, Instagram và Reddit. Giờ chỉ còn Youtube để thỉnh thoảng xem nội dung hài. Tôi thấy bình tĩnh hơn và có cảm giác mình làm chủ đời mình. Tôi thấy thật vô lý khi những công ty này có ảnh hưởng quá lớn với xã hội dù gần như không đóng góp gì mấy
    • Tôi cũng đã làm thử thí nghiệm tương tự và đi tới cùng kết luận
  • Trong vài tháng tôi đã cài lại fb, Reddit, x và Instagram, rồi mới thực sự nhận ra chúng gây nghiện đến mức nào. Cuối cùng tôi chỉ xóa app, giữ tài khoản và dùng bản web một cách hạn chế

  • Có vẻ nhiều bình luận đang bỏ qua định luật Hotelling ( liên kết Wikipedia ). Nếu áp vào chính trị thì kế hoạch sẽ là thế này: trong hệ hai đảng, trước hết bạn bắt đầu thông điệp từ vị trí trung gian của chính đảng mình. Khi đó bạn lấy được từ nhóm trung vị của đảng mình tới toàn bộ khối trung dung của đảng, và cả một phần ở xa hơn về phía ngoài. Chiến lược này giúp thắng bầu cử sơ bộ. Sau đó, bạn phải từ từ dịch chuyển về trung tâm của toàn bộ dân số. Làm vậy bạn sẽ lấy được đảng mình lẫn khối trung dung của đảng đối lập. Đảng bên kia cũng làm điều tương tự từ hướng ngược lại. Với câu hỏi “thế sao không bắt đầu ngay từ trung tâm?”, thì như vậy bạn sẽ không qua được vòng sơ bộ và còn bị cả hai đảng đang nhắm vào trung dung vượt qua

  • Cho tới gần đây tôi vẫn tin vào tự do của tính ẩn danh trực tuyến, nhưng giờ tôi cảm nhận được rằng ẩn danh là một gánh nặng mà xã hội lành mạnh khó có thể gánh nổi. Tôi thấy con người không phải là loài có thể gánh trách nhiệm kết nối ẩn danh với hàng triệu người trên toàn thế giới mà không phải trả giá

    • Phản biện mạnh nhất là một chế độ dùng tên thật hoàn toàn sẽ tạo ra hiệu ứng làm người ta tự kiểm duyệt rất nặng với bất đồng chính trị hay phê phán chế độ. Tôi cho rằng tác dụng phụ đó nguy hiểm hơn rất nhiều so với một vài trường hợp cực đoan
    • Nếu đang nói tới phản ứng quanh vụ Charlie Kirk gần đây, thì có lẽ vấn đề không nằm ở ẩn danh. Những ý kiến được phát biểu công khai bằng danh tính thật cũng cực đoan không kém ý kiến ẩn danh. Thậm chí khi dùng danh tính thật, người ta còn có xu hướng hung hăng hơn. Tên thật đôi khi còn khuyến khích thông điệp mạnh hơn để phát tín hiệu thuộc về một phe nhóm
    • Tôi nghĩ tính ẩn danh không ảnh hưởng nhiều. Phát ngôn ác ý được đăng bằng tên thật cũng đã quá nhiều rồi. Nếu vì ẩn danh mà suy nghĩ của ai đó thay đổi, có lẽ niềm tin gốc của họ vốn đã không mạnh như họ tưởng
    • Thật ra tôi nghĩ ngay cả khi không có ẩn danh, việc giao tiếp có trách nhiệm trên mạng cũng là điều quá sức với phần lớn mọi người. Ngay cả trên LinkedIn dùng danh tính thật vẫn có rất nhiều hệ quả xấu như báo cáo lên công ty, quấy rối hay xâm phạm đời tư
    • Nếu internet là nền tảng mạng xã hội lớn nhất thế giới, thì tôi nghĩ ẩn danh bắt buộc phải biến mất. Ngay cả máy chủ telemetry công khai dựa trên DNS mà tôi vận hành cũng nhận hơn 1.000 yêu cầu độc hại cho mỗi 1 yêu cầu bình thường. Tôi phải từ chối loại traffic này bằng REFUSED, và còn có quy định không được công khai những IP đó, nhưng cũng chẳng có cách nào biết IP có bị giả mạo hay không. Cần phải công khai IP để cả thế giới cùng chia sẻ tình hình thì mới biết đó là vấn đề thật hay chỉ là spoofing. Trên internet không có cảnh sát; nếu có thì BCP 38 đã được triển khai và vấn đề này đã biến mất. Thực tế hiện tại là sự lạm dụng cứ tiếp diễn liên tục
  • Những bài kiểu đặt câu hỏi gợi tò mò, câu clickbait theo hướng “sự thật không như bạn nghĩ” này kém thú vị hơn rất nhiều so với điều tác giả tưởng

    • Vừa thấy phần mở đầu nhắc tới “một bài luận dài” là tôi đóng trang ngay. Dài không đồng nghĩa với hay
    • Vừa đọc đến câu “Tôi sẽ tập trung vào ảnh hưởng chính trị của mạng xã hội” là tôi đóng tab luôn
    • Tác giả hoàn toàn có thể truyền đạt y hệt luận điểm đó mà không cần dùng những từ khó như “polemicizing”, “putative”, “epistemic”