Chính phủ Mỹ mua lại cổ phần Intel
(stratechery.com)- Quyết định của chính phủ Mỹ mua 10% cổ phần Intel đang vấp phải làn sóng chỉ trích mạnh mẽ, nhưng có ý kiến cho rằng đây là lựa chọn không thể tránh khỏi khi xét đến rủi ro từ Đài Loan·Trung Quốc và an ninh quốc gia
- Sau thất bại trong quá trình chuyển đổi sang di động, Intel đã bỏ lỡ thời điểm chuyển sang mô hình foundry, tụt lại sau TSMC·Samsung, và vấn đề đảm bảo năng lực sản xuất dài hạn đã nổi lên thành vấn đề ở tầm quốc gia
- Phe phản đối nêu ra các vấn đề như quyết định mang tính chính trị, làm suy giảm giá trị doanh nghiệp, gây bất lợi cho đối thủ và bóp méo dòng vốn, nhưng tác giả (Ben Thompson của Stratechery) diễn giải lại điều này như một nhu cầu an ninh và khoản đầu tư chiến lược dài hạn
- Trọng tâm tranh luận là mức độ phụ thuộc vào TSMC·Samsung: trong bối cảnh năng lực sản xuất trong nước Mỹ còn thiếu, nếu Intel từ bỏ sản xuất, Mỹ sẽ phải phụ thuộc hoàn toàn vào các công ty nước ngoài ở gần Trung Quốc
- Kết luận, khoản đầu tư này không bảo đảm thành công, nhưng được xem là “phương án ít tệ nhất” (least bad option) để duy trì Intel Foundry và củng cố độ tin cậy cho khả năng tự chủ bán dẫn của Mỹ
Tổng quan: tranh cãi về việc chính phủ Mỹ mua cổ phần Intel
- Gần đây, chính phủ Mỹ công bố mua 10% cổ phần của Intel, khiến quyết định này trở thành một điểm tranh cãi lớn trong chính sách công nghiệp và công nghệ của Mỹ
- Những người chỉ trích cho rằng quyết định này phớt lờ nguyên tắc thị trường, quốc hữu hóa doanh nghiệp tư nhân, và có thể khiến logic chính trị cản trở phán đoán thương mại
- Tuy nhiên, cũng có quan điểm cho rằng nếu xét đến chuỗi cung ứng bán dẫn toàn cầu và rủi ro địa chính trị, thì khó có thể đánh giá vấn đề này chỉ bằng logic kinh doanh đơn thuần
Steelmanning là gì?
- steelmanning là cách phản biện bằng việc giả định phiên bản mạnh nhất trong lập luận của đối phương, từ đó khiến thảo luận trở nên sâu sắc và hiệu quả hơn
- Một số lập luận của phe chỉ trích (đặc biệt là các lập luận loại bỏ thực tế địa chính trị của Trung Quốc và Đài Loan) bộc lộ vấn đề thiếu steelmanning
- Trong lĩnh vực bán dẫn, họ đặc biệt bỏ qua thực tế rằng căng thẳng giữa Trung Quốc, Đài Loan và Mỹ có thể chuyển hóa thành rủi ro chuỗi cung ứng thực sự
Ngành bán dẫn nhìn từ góc độ địa chính trị
- Đài Loan (Taiwan) là nơi đặt foundry tiên tiến nhất thế giới (nhà máy sản xuất, TSMC), và nằm bên kia Thái Bình Dương so với Mỹ
- Hàn Quốc (Samsung) cũng sản xuất bán dẫn tiên tiến, nhưng chủ yếu tập trung vào sản xuất chip của riêng mình
- Một phần bán dẫn tiên tiến có thể được sản xuất bằng quy trình cũ trong nội địa Mỹ, nhưng những chip mới nhất cần cho quân sự, AI và các ngành cốt lõi phần lớn do TSMC cung cấp
- Nếu Trung Quốc có hành động quân sự đối với Đài Loan, thế giới có nguy cơ đối mặt với gián đoạn nghiêm trọng trong nguồn cung bán dẫn
- Vì những rủi ro địa chính trị này, việc đảm bảo năng lực sản xuất bán dẫn tiên tiến tự chủ đã trở thành vấn đề cấp bách đối với chính phủ Mỹ
Kết quả của nhiều thập kỷ quyết định công nghiệp
- Ngành bán dẫn được dẫn dắt bởi đầu tư theo chu kỳ thời gian rất dài, hiệu ứng học hỏi tích lũy và lợi thế kinh tế theo quy mô
- Nguyên nhân cốt lõi khiến Intel ngày nay tụt lại sau TSMC và các công ty khác bắt nguồn từ những thất bại trong quyết định chiến lược hàng chục năm trước, như việc không tham gia thị trường di động trong những năm 2000
- Một doanh nghiệp foundry quy mô lớn đòi hỏi khoản đầu tư ban đầu khổng lồ mà chỉ số ít có thể gánh nổi, cùng với mức độ tin cậy lâu dài từ khách hàng
- Nếu trước đây Intel đã sớm chuyển đổi cấu trúc kinh doanh sang sản xuất chip cho bên ngoài (foundry), công ty có thể đã ở vị thế phù hợp hơn với làn sóng AI hiện nay
- Khó khăn hiện tại của Intel không phải do các quyết định ngắn hạn, mà bắt nguồn từ thất bại trong việc tích lũy kinh nghiệm dài hạn và năng lực công nghệ
Cấu trúc cạnh tranh với TSMC
- Trong lĩnh vực foundry bán dẫn, những công ty như TSMC đã tích lũy nội lực công nghiệp suốt thời gian dài có lợi thế cạnh tranh áp đảo so với các startup nhiều biến động
- TSMC đang dẫn dắt thị trường nhờ niềm tin từ khách hàng, chất lượng, cùng quy mô đầu tư và kinh nghiệm dịch vụ khổng lồ
- Trên thực tế, một startup khó có thể đạt tới trình độ của TSMC hay Intel nếu không có bí quyết được tích lũy trong hàng chục năm
- Vì vậy, nếu Intel rút khỏi mảng foundry, sẽ không có công ty nào khác có thể lấp đầy khoảng trống đó trong thời gian ngắn
Vấn đề độ tin cậy của Intel
- Thiếu độ tin cậy rằng Intel sẽ tiếp tục duy trì dịch vụ foundry là rào cản lớn nhất trong việc thu hút khách hàng
- Chỉ dựa vào nhu cầu từ chính phủ và sự ưu ái chính sách thì vẫn khó duy trì khách hàng bên ngoài một cách liên tục và khôi phục niềm tin thị trường
- Nếu Intel từ bỏ sản xuất, về cấp độ quốc gia, Mỹ sẽ phụ thuộc mạnh hơn vào các công ty nước ngoài như TSMC·Samsung
- Dù các foundry nước ngoài đang xây nhà máy tại Mỹ, công nghệ đỉnh cao và năng lực R&D vẫn chủ yếu tập trung tại trụ sở ở Đài Loan và Hàn Quốc
- Vì vậy, vẫn thiếu một phương án tối ưu để bảo đảm tính độc lập công nghệ dài hạn của Mỹ
Mặt sáng và mặt tối của can thiệp chính phủ
- Can thiệp của chính phủ làm dấy lên lo ngại về các tác động tiêu cực như bóp méo vốn tư nhân, làm suy giảm hiệu quả thị trường và giảm đầu tư nước ngoài
- Tuy nhiên, từ góc nhìn an ninh quốc gia và duy trì hệ sinh thái công nghiệp trong trung-dài hạn, vẫn cần duy trì và mở rộng hạ tầng sản xuất tiên tiến của Intel
- Việc Intel ưu tiên lợi ích của chính phủ có thể làm nảy sinh nghi vấn trong ngắn hạn, nhưng lại có thể tác động tích cực đến việc bảo đảm năng lực cạnh tranh công nghiệp dài hạn
- Điều này cũng có thể tạo ra hiệu ứng thúc đẩy các đối thủ nước ngoài (TSMC, Samsung) tăng cường đầu tư tại Mỹ
- Để có một “existence guarantee” (bảo đảm sự tồn tại) mang tính chiến lược ở cấp quốc gia, việc chính phủ nắm giữ cổ phần được đưa ra như một lựa chọn cần thiết
Kết luận: Steelmanning và rủi ro tương lai
- Quyết định mua lại của chính phủ thực sự có khả năng thất bại và gây lo ngại về tính kém hiệu quả trong ngắn hạn
- Tuy nhiên, xét đến thực tế không thể né tránh là rủi ro địa chính trị liên quan đến Trung Quốc·Đài Loan và việc bảo đảm chuỗi cung ứng cho các ngành công nghiệp tiên tiến, đây không phải là lĩnh vực có thể chỉ giao phó cho khu vực tư nhân
- Nếu Intel biến mất, sẽ không có phương án thay thế xuất hiện trong thời gian tới → các ngành công nghiệp cốt lõi và nền kinh tế Mỹ có nguy cơ phụ thuộc mang tính cấu trúc vào nước ngoài
- Vì để chủ động đối phó với các rủi ro này, lập luận rằng cần có mức can thiệp tối thiểu của nhà nước trở nên thuyết phục
- Sau cùng, dù trong ngắn hạn có vẻ chưa có vấn đề, vẫn cần nhận thức rằng về dài hạn, rủi ro chạm đến gốc rễ của an ninh quốc gia và nền kinh tế có thể gia tăng
1 bình luận
Ý kiến trên Hacker News
Nói thật, tôi đồng ý rằng khả năng nỗ lực này thành công là không cao. Tuy vậy, các lo ngại liên quan đến Trung Quốc là có thật, và nếu ngay cả sự tồn tại của Intel Foundry cũng không được bảo đảm thì sẽ càng khó thuyết phục khách hàng. Nếu Intel bấm nút pivot, sẽ không có startup nào lấp được chỗ trống đó. Mỹ sẽ phải phụ thuộc hoàn toàn vào các công ty nước ngoài đối với sản phẩm quan trọng nhất trên Trái Đất là chất bán dẫn, và dù trong 5, 10 hay 15 năm tới có vẻ chưa có vấn đề gì, hạt giống của thất bại rồi cũng sẽ nảy mầm. Cuối cùng, thất bại này có nguy cơ mang lại hậu quả thảm khốc không chỉ cho công ty bán dẫn lớn nhất nước Mỹ mà còn cho cả nước Mỹ. Tôi ngạc nhiên khi Mỹ lại để mọi chuyện lỏng lẻo đến mức này. Khi triển khai chính sách xoay trục sang châu Á 10 năm trước, chẳng ai buồn tìm xem TSMC ở đâu, cũng chẳng quan tâm Intel có đang tự hủy hay không. Có câu “mất một cái đinh, mất cả vương quốc”, nhưng ở đây không chỉ là cái đinh, mà là giao cả ngành luyện kim cho một khu vực sẽ va chạm trong tương lai.
Để Mỹ lại thu hút được nhân tài vào lĩnh vực bán dẫn, không thể cứ để nhiều kỹ sư chuyển sang phần mềm và machine learning như hiện nay. Bản thân tôi cũng chuyển từ bán dẫn sang kỹ sư phần mềm, và chỉ RSU trong 2 năm đầu đã nhiều hơn cả 10 năm làm trong ngành bán dẫn. Ở Mỹ, dù bán dẫn có tầm quan trọng chiến lược, ngành này lại có danh giá thấp; còn ở những quốc gia đang lên thì được tôn trọng hơn và đãi ngộ cũng cao hơn. Từ góc nhìn đó, làn sóng sa thải gần đây trong ngành phần mềm có thể là cơ hội để chặn dòng chảy nhân lực rời bỏ bán dẫn. Nếu Intel khôn ngoan, họ nên tích cực tuyển dụng ngay bây giờ để giành lấy những nhân tài mà 3~5 năm trước họ không có được.
Đã có người cảnh báo trước tình hình này vào các năm 2013, 2014. Khi đó tôi dự đoán Intel sẽ suy tàn còn AMD và TSMC sẽ vươn lên, nhưng phần lớn mọi người thậm chí còn không biết TSMC là ai. Gần đây TSMC đã đầu tư rất nhiều vào Mỹ, nhưng mặt khác cũng thật chua chát khi Mỹ lại cố vực dậy Intel vì lý do chiến lược. Dù vậy, TSMC vẫn đang dẫn trước ít nhất 2 thế hệ (5~6 năm). Ngay cả trong kịch bản tốt nhất, trừ khi TSMC mắc sai lầm, Intel cũng không thể bắt kịp trong thời gian ngắn. Hiện nay ngay cả các nguồn doanh thu chủ chốt của Intel cũng đang lung lay.
Từ nhiều thập kỷ trước đã có những tiếng nói cảnh báo rằng việc chuyển sản xuất trong nước ra nước ngoài là một vấn đề. Nhưng không ai chú ý, và giờ đây thực tế là gần như không còn cách nào đảo ngược.
Những tác dụng phụ mang tính hệ thống, nơi lợi nhuận ngắn hạn được ưu tiên hơn nghiên cứu dài hạn, đã dẫn tới kết cục này. CHIPS Act đến quá muộn và có cảm giác là quá ít.
Đây là kiểu chuyện mà người ta thuê ngoài toàn bộ sản xuất suốt hàng chục năm rồi lại ngạc nhiên khi những người làm việc đó giỏi hơn người Mỹ.
Về lập luận rằng “lý do quyết định để Mỹ nên sở hữu một phần Intel là lời hứa ngầm rằng Intel Foundry sẽ tiếp tục tồn tại”, nhìn vào các quyết định chính sách của Mỹ trong 8 tháng gần đây, tôi thấy chúng đôi khi thận trọng nhưng đồng thời cũng có thể thay đổi hoặc bị đảo ngược bất cứ lúc nào. Ngay cả nếu chấp nhận rủi ro đó để bán vào thị trường Mỹ, tôi vẫn không cảm thấy lợi ích thị trường đủ lớn. Sẽ mất nhiều năm để Intel thực sự trở thành một foundry có sức cạnh tranh và bắt đầu sản xuất sản phẩm cho khách hàng. Và so với các foundry lớn đã ổn định, khả năng cạnh tranh về chi phí của Intel cũng chưa rõ ràng.
Tôi hiểu việc chính phủ Mỹ đầu tư là nhằm bảo đảm năng lực sản xuất bán dẫn trong nước, nhưng tôi cho rằng tất cả điều này phụ thuộc hoàn toàn vào mức độ hiểu biết, kế hoạch và năng lực thực thi. Cách vận hành hiện tại của chính phủ liên bang Mỹ thiếu sự tin cậy. Bản thân Intel khi tự vận hành còn chưa tạo được niềm tin, nên càng khó tìm thấy niềm tin ở tổ hợp Intel + chính phủ Mỹ. Chỉ nhìn vào chính sách thuế quan hiện nay cũng thấy nó được triển khai một cách bốc đồng, cảm tính và thiếu kế hoạch rõ ràng. Các chính sách khác có lẽ cũng vậy.
Kịch bản tốt nhất là trước năm 2028 tổng thống thay đổi và chính sách được ổn định.
Khi có thông báo chính phủ Mỹ đầu tư vốn cổ phần vào Intel, ai cũng xem đó là màn diễn chính trị, nhưng tôi nghĩ mục tiêu an ninh quốc gia mới là lớn hơn. Tôi cho rằng CHIPS Act đã không mang lại nhanh hiệu quả mà Bộ Quốc phòng Mỹ mong muốn. Trước đây trong thời kỳ COVID, đã có tình trạng thiếu chip do vấn đề chuỗi cung ứng của TSMC. Trải nghiệm đó đã thúc đẩy góc nhìn an ninh quốc gia. Ngoài ra, khi cuộc cạnh tranh AI trở nên gay gắt, quyền bá chủ AI đã trở nên cực kỳ quan trọng, và tôi cũng cho rằng việc chính phủ Mỹ gây áp lực lên NVDA sử dụng foundry của Intel mang nặng yếu tố quốc phòng. Và trong các chi tiết của thỏa thuận Intel, chính phủ Mỹ giữ vị thế nhà đầu tư thụ động mà không tham gia điều hành thực tế (không tham gia hội đồng quản trị hay có quyền cổ đông). Cũng có warrants bảo đảm lợi nhuận tùy theo thành tích của Intel Foundry, nên rốt cuộc điều cốt lõi vẫn là foundry.
Liên kết liên quan
Lý do CHIPS Act không tạo ra hiệu quả mà Bộ Quốc phòng mong muốn là vì việc giải ngân thực tế bị chậm. Luật được thông qua từ 3 năm trước nhưng Intel không nhận được tiền, và giờ khoản trợ cấp đó lại được chuyển sang một cấu trúc phức tạp là đổi tiền mặt lấy cổ phần.
Đằng sau mọi tranh cãi chính trị này là cảm giác khủng hoảng rằng “nếu thua trong cuộc đua AI thì sẽ là thảm họa”. Nếu ngay cả nguồn cung chip tiên tiến cũng bị chặn hoàn toàn thì vấn đề sẽ còn nghiêm trọng hơn.
Thật ra, tôi nghĩ lý do thật sự Mỹ gây áp lực buộc NVDA dùng Intel khá đơn giản. Nhìn vào IFS (Intel Foundry Services) thì không có khách hàng lớn nào cả. Gần như mọi khách hàng đều thích TSMC hoặc Samsung, và Intel thực tế đã bị loại khỏi cuộc cạnh tranh sản xuất chip toàn cầu. Nếu thực sự là vì an ninh quốc gia, họ đã không dừng ở đầu tư thụ động mà sẽ dùng quyền lực tích cực hơn như quốc hữu hóa. Đây là biện pháp cuối cùng để buộc các khách hàng tiêu biểu như Apple, Nvidia phải dùng silicon sản xuất tại Mỹ.
Mặt khác, tôi đã nghe nhiều về việc chip Nvidia được sản xuất tại TSMC ở Đài Loan, nhưng chỉ gần đây mới biết rằng GPU hoàn thiện thực tế vẫn được lắp ráp tại Trung Quốc. Nếu chỉ kiểm soát khâu sản xuất chip, trong khi sản phẩm hoàn chỉnh vẫn phải đi qua Trung Quốc, thì tôi nghi ngờ liệu chính sách này có thực sự hiệu quả hay không.
Thật ra, ngay cả nếu Intel sản xuất chip ở Mỹ thì cũng khó giải quyết được tình trạng thiếu chip cho ô tô. TSMC duy trì các dây chuyền cũ kém cạnh tranh trong thời gian dài để cung cấp chip giá rẻ, và không có lý do gì phải đầu tư mới ở Mỹ để làm việc đó. Các hãng xe không có lý do dùng chip đắt hơn và tiên tiến hơn bây giờ. TV cũng vậy, BOM cho tính năng “smart” phải dưới 10 USD.
Tôi thắc mắc vì sao chuyện này lại trở thành vấn đề lớn đến vậy. Tôi hiểu tầm quan trọng của bán dẫn, nhưng ví dụ như Volkswagen AG thì bang Niedersachsen của Đức đang nắm 11,8% cổ phần. Rolls-Royce, Ericsson và những công ty tương tự cũng từng là doanh nghiệp quan trọng đối với con người, nhưng vì lý do kinh tế mà nhà nước đã nắm một phần cổ phần. Việc tách thương hiệu và chuyển chủ sở hữu giữa Bentley và RR cũng là trường hợp tương tự. Tất nhiên tình hình của WAG và Intel là khác nhau, nhưng ở nhiều khía cạnh cũng có nhiều điểm giống nhau. Với Mỹ, vụ Intel có thể là đặc biệt, nhưng với toàn bộ phương Tây thì không hẳn là chuyện quá đặc biệt. Chỉ là bản thân tình huống này cho thấy cần có biện pháp nào đó để nâng cao sức cạnh tranh của ngành bán dẫn phương Tây.
Wikipedia Volkswagen Group
Pháp và Hà Lan cùng nắm gần 40% cổ phần tại Air France-KLM. So với vậy, khoảng 10% cổ phần là hợp lý nếu nhìn từ phía Mỹ.
Tôi đồng ý rằng phương Tây phải làm gì đó để ngành bán dẫn có sức cạnh tranh. Chỉ là tôi nghi ngờ việc chính phủ can dự có tạo ra khác biệt hay không. Không có quá nhiều trường hợp kết quả vận hành của chính phủ liên bang là đặc biệt tốt.
Việc này ồn ào như vậy thật ra 99% là vì ai đang làm tổng thống. Nếu Bernie Sanders làm đúng y như thế, những người đang phàn nàn bây giờ có khi lại khen ngợi, còn phía phản đối thì sẽ chỉ trích là chủ nghĩa xã hội. Cuối cùng phần lớn vẫn là logic phe phái chính trị.
Tôi cũng không thể dễ dàng đưa ra kết luận về chuyện này. Một mặt, sở hữu nhà nước hiếm khi mang lại kết quả tốt nên tôi cũng không nghĩ lần này sẽ khác. Nhưng nhìn vào tốc độ đổi mới của ngành sản xuất Trung Quốc thì thật đáng kinh ngạc. Giờ đây không chỉ là sao chép sản phẩm phương Tây hay đánh cắp IP, mà còn có nhiều sản phẩm sáng tạo và cao cấp như BYD. Tất nhiên đây không phải hoàn toàn là doanh nghiệp nhà nước, nhưng sự hỗ trợ từ nhà nước chắc chắn là rất lớn. Đây cũng là lý do Nvidia lo ngại rằng toàn bộ Trung Quốc có thể chuyển sang GPU nội địa. Kết quả là điều này đang giúp ích rất nhiều cho tiến bộ công nghệ chip. Tôi vẫn chưa biết nên sắp xếp hai mặt đó trong đầu mình như thế nào.
Có thể nhìn từ góc độ ngắn hạn và ổn định dài hạn. Nếu một BDFL (lãnh đạo độc đoán trên thực tế) điều hành tổ chức tốt thì có thể cho kết quả tốt hơn thiết kế kiểu ủy ban. Dù là phần mềm hay tổ chức quốc gia cũng vậy. Trung Quốc, Singapore, Linux, Python đều là những ví dụ kiểu đó. Nhưng về dài hạn, vị lãnh đạo đó rồi cũng sẽ biến mất, và theo bản tính con người thì rủi ro tha hóa sẽ tăng lên. Trong tương lai, nguy cơ thất bại lớn (ví dụ như Đại nhảy vọt) sẽ luôn tồn tại, hoặc cũng có thể chuyển sang một hệ thống ổn định hơn sau giai đoạn chuyên quyền. Trung Quốc có thể nhiều lần thành công với các chính sách lớn như “thay toàn bộ GPU bằng sản phẩm nội địa”, nhưng rồi cũng có thể sụp đổ vì một sai lầm lớn.
Trước đây tôi thậm chí còn không biết có công ty tên BYD, cho tới khi người em họ ở Úc đang chạy Tesla nhắc cho tôi. Ở Mỹ vì thuế quan và môi trường mà gần như không có dịp nhìn thấy sản phẩm của họ. Theo nghĩa đó, tôi chợt nhận ra mình đã vô thức đứng hoàn toàn ngoài cánh cửa đối với các công ty đổi mới như BYD.
Tôi nghĩ nhiều người đang đánh giá thấp việc Trung Quốc không còn chỉ là nơi làm hàng nhái chất lượng thấp, mà đã xây dựng được năng lực đổi mới một cách căn bản. Giống như Nhật Bản từng bị chế giễu trong quá khứ rồi trở thành một quốc gia đổi mới, Trung Quốc giờ cũng được đánh giá nhờ chất lượng cao và khả năng đổi mới. Với Nhật thì không có khung doanh nghiệp nhà nước như Trung Quốc, còn với Trung Quốc thì hỗ trợ pháp lý từ nhà nước là khác biệt quan trọng. Nhưng chỉ hỗ trợ nhà nước thôi là chưa đủ; về dài hạn, năng lực cạnh tranh của một quốc gia nằm ở sự cải tiến nhỏ bền bỉ và đổi mới. Một khi đổi mới bị đình trệ thì động lực cũng suy giảm, và cuối cùng dẫn tới suy thoái.
Những người vẫn nghĩ hàng Trung Quốc ngày nay còn tệ có lẽ là những người trong 5 năm qua chưa từng trực tiếp trải nghiệm Trung Quốc. Thực tế không phải tất cả chỉ là hàng giá rẻ kiểu Shein hay Temu.
Thành thật mà nói, bất kể có sự can thiệp của chính phủ hay không, tôi cũng không đặt nhiều kỳ vọng vào Intel. Có thể họ sẽ hồi sinh như AMD, nhưng nhìn vào kết quả vài năm gần đây thì tôi không chắc. Giai đoạn từ Pentium đến Core2Duo thật sự rất tuyệt, nhưng từ sau đó tôi cảm thấy cả về giá/hiệu năng lẫn mức độ hoàn thiện tổng thể đều suy giảm dần. Dòng i-series vẫn ổn cho gaming, nhưng trong lúc thiếu cạnh tranh thì tỷ lệ giá/hiệu năng đã giảm, và ngay cả khi AMD bắt đầu vươn lên, Intel vẫn tỏ ra quá chắc chắn rằng “chúng ta vẫn thắng”.
Thành thật mà nói, từ góc nhìn của người dân bình thường Trung Quốc, lý do không hành động với vấn đề Đài Loan không phải là vì TSMC mà là vì tôn trọng ý chí của người Đài Loan và sự kiên nhẫn với hiện trạng. Nhưng sự kiên nhẫn đó cũng có giới hạn. Dù TSMC đang có chip tốt, tôi cho rằng trong 10 năm nữa Trung Quốc có thể bắt kịp rồi vượt khoảng cách công nghệ. Chỉ cần nhìn chênh lệch công nghệ chip giữa 2015 và 2025 là thấy xu hướng này. Tôi không mấy quan tâm đến Intel.
Nếu Trung Quốc vượt Đài Loan về sản xuất chip thì đó sẽ là tình thế cực kỳ bất lợi cho Đài Loan. Khi đó, từ phía Trung Quốc sẽ không còn lý do để “mềm mỏng khi chiếm hòn đảo”. Để sinh tồn, Đài Loan có lợi nếu khiến cả Trung Quốc lẫn Mỹ đều phụ thuộc vào năng lực sản xuất của mình.
Tôi cho rằng lý do Trung Quốc chưa chiếm Đài Loan là vì lo ngại những rủi ro mới của chiến tranh và thực tế xấu đi sau đó. Nếu có thể dễ dàng chiếm được thì có lẽ họ đâu cần chờ người Đài Loan thay đổi. Và nếu không phải vì TSMC mà là vì sự kiên nhẫn, nhưng sự kiên nhẫn đó sẽ kết thúc trong vòng 10 năm nhờ sự tự tin có được công nghệ chip tự chủ, thì dường như lập luận đó tự mâu thuẫn.
Quá trình để “dư luận của người Trung Quốc” thực sự dẫn đến hành động của quân đội Trung Quốc, cũng giống như ở Mỹ, trên thực tế là rất phức tạp và còn xa mới đơn giản.
Tôi cho rằng truyền thông phương Tây đang phóng đại TSMC như yếu tố cốt lõi của quan hệ hai bờ eo biển. Với Trung Quốc, TSMC không phải cốt lõi. Có thì tốt, nhưng không phải bản chất, và Đài Loan đã là vấn đề quan trọng về ý thức hệ với Trung Quốc từ trước cả khi TSMC nổi lên.
Sự tăng trưởng nổi bật của ngành bán dẫn Trung Quốc giai đoạn 2015~2025 có thể đạt được vì điểm xuất phát thấp. Cũng như GDP bình quân đầu người của Trung Quốc, nếu cứ giữ nguyên tốc độ tăng trưởng cao của quá khứ thì họ có thể vượt cả Mỹ và Tây Âu, nhưng theo xu hướng hiện nay thì rất khó để khoảng cách đó thu hẹp mãi mãi (tất nhiên trong 10~20 năm tới thế giới sẽ thay đổi ra sao thì không ai biết). Hơn nữa, vách đá dân số của Trung Quốc cũng đã ở ngay trước mắt. Mỹ và châu Âu ít nhất còn cầm cự được phần nào nhờ nhập cư.
Khó khăn của Intel là họ không còn thu hút được nhân tài hàng đầu như trước nữa. Việc điều hành một foundry tiên tiến cốt lõi là vượt qua những vấn đề kỹ thuật cực kỳ khó, nhưng giờ không còn nhiều kỹ sư hàng đầu làm việc ở đó như trước. Những lĩnh vực như thế này rốt cuộc có một vòng tuần hoàn tích cực kiểu “nhân tài top muốn làm việc cùng nhân tài top”. Đôi khi có thể chi rất nhiều tiền để kéo người về, nhưng ví dụ như Jim Keller cũng rời đi rất nhanh. Cuối cùng, nếu không có đúng người thì chỉ đổ tiền cũng không giải quyết được.
Không ngành nào có thể xây dựng được năng lực cạnh tranh nếu tổng thống dùng cách tiếp cận kiểu ép một công ty phải nhả ra 10% cổ phần. Dù là tập đoàn lớn hay cửa hàng nhỏ, trong môi trường bảo hộ (hoặc cưỡng đoạt) như vậy thì không thể phát triển thịnh vượng.
Nếu Mỹ đã trả 9,8 tỷ USD và vốn hóa thị trường của Intel là 106 tỷ USD, thì coi như họ mua 10% với giá hơi chiết khấu. Nếu con số này đúng, tôi không nghĩ có thể gọi đó là “cướp đoạt” hay “tống tiền”. Tôi cũng sợ việc lạm dụng quyền lực, nhưng lần này thì tôi nghiêng về phía không phải như vậy.
Dù có ghét Trump đến đâu thì lần này cũng không phải là cưỡng đoạt. Chỉ là tái đàm phán cấu trúc phân chia lợi nhuận rồi đổi nó sang cổ phần mà thôi.
Vậy thì cũng có thể hỏi vì sao chỉ Trump mới là vấn đề. Nếu Bernie Sanders làm thì cũng thế thôi. Có lẽ đây là một mặt của mô hình xã hội chủ nghĩa kiểu Mỹ. Nhà nước nắm cổ phần cũng có nghĩa là người dân trở thành cổ đông, nên về chính trị khá mỉa mai.
Về đánh giá của một số truyền thông rằng chiến lược Intel của chính phủ Mỹ bị thổi phồng, tôi cảm thấy cũng không quá lạ khi thế giới đang đi theo cục diện Chiến tranh Lạnh mới. Đây là việc được thúc đẩy từ góc nhìn lợi ích quốc gia, chứ không phải vốn tư nhân, và xét về thời điểm thì thực ra đã hơi muộn. Tôi là người châu Âu, lớn lên trong một nền văn hóa có sự can thiệp lớn của nhà nước, nên ngược lại tôi thấy điều này khá tự nhiên.