Hạ tầng nước tại Trạm Cực Nam
(brr.fyi)- Không giống McMurdo ở ven biển, trạm Cực Nam không có nguồn cung nước lỏng, nên phải làm tan lớp tuyết dày hàng nghìn feet để tạo nước uống và nước sinh hoạt, đồng thời xử lý nước thải theo một cách riêng
- Nguồn nước ngọt bắt đầu từ một giếng ngầm trong tuyết gọi là Rodwell, nơi nước nóng được tuần hoàn để tạo thành một hồ ngầm rồi bơm nước đó lên đưa tới nhà máy xử lý
- Tuyết sâu ở Cực Nam có nhiệt độ khoảng -60°F, và để tạo ra 1 gallon nước lỏng ở 50°F cần khoảng 268Wh để tăng nhiệt độ cộng với nhiệt nóng chảy tiềm ẩn 350Wh, tổng cộng khoảng 618Wh, nên riêng việc sản xuất nước đã rất tốn năng lượng
- Tại nhà máy xử lý, nước được phân phối sau khi đi qua bộ tiếp xúc đá vôi, bộ lọc, natri cacbonat, clo, bồn chứa và bồn tăng áp; đường ống được trang bị cách nhiệt và dây sưởi để tránh đóng băng
- Nước thải không được xử lý rồi xả ra như ở McMurdo mà được lưu trữ ở trạng thái chưa qua xử lý trong các Rodwell hết vòng đời; tính đến tháng 6/2024, nhà máy xử lý nước thải cho trạm Cực Nam chưa nằm trong kế hoạch hay ngân sách
Khác biệt giữa trạm ven biển và trạm Cực Nam trong đất liền
- Phần lớn các trạm nghiên cứu ở Nam Cực nằm tại hoặc gần bờ biển
- Vì đại dương giúp điều hòa khí hậu, tạo điều kiện cho logistics bằng tàu biển, đồng thời cung cấp nguồn nước và phương tiện xả nước thải
- Các địa điểm nghiên cứu khoa học cũng thường tập trung gần bờ biển
- Trạm Cực Nam là một trong số ít trạm nội địa vận hành quanh năm không nằm ở ven biển
- Nằm trên cao nguyên nội địa, cách McMurdo Station khoảng 975 dặm về phía nam
- Khác với các trạm ven biển có sẵn nước lỏng, tại đây phải làm tan tuyết để lấy nước
Hạ tầng nước ngọt của McMurdo
- McMurdo là trạm ven biển nên có thể tiếp cận nước biển lỏng quanh năm từ bờ biển phía dưới khu dân cư
- Dù mùa đông nhiệt độ có thể xuống tới -30°F, bên dưới lớp băng vẫn còn nước lỏng
- Nước biển được bơm lên qua building 179, tức Seawater Intake Facility
- Đường ống nước biển sử dụng lớp cách nhiệt dày và cáp dây sưởi
- heat trace là dây điện trở cao có thể điều khiển, được lắp dọc theo đường ống
- Khi có dòng điện chạy qua, nó tạo nhiệt, và lớp cách nhiệt giữ nhiệt đó để nước trong ống không bị đóng băng
- Nước biển ở McMurdo được dùng cho hai mục đích
- Bể thủy sinh nước biển của Crary Lab
- Sản xuất potable water cho vận hành trạm, tức nước sinh hoạt
- Việc sản xuất nước sinh hoạt trải qua nhiều bước tại McMurdo water treatment plant
- Nước biển đi vào ở khoảng 28°F và vẫn ở thể lỏng ở nhiệt độ thấp hơn nước ngọt do có độ mặn
- Được gia nhiệt lên khoảng 37°F bằng nhiệt thải từ nhà máy điện
- Được lọc để loại bỏ cặn
- Dùng thẩm thấu ngược để loại bỏ muối và khoáng chất tự nhiên, phần còn lại được xả trở lại biển
- Ở bước polishing, độ cứng và pH được điều chỉnh, đồng thời thêm một lượng nhỏ clo để giảm ảnh hưởng ô nhiễm trong hệ thống lưu trữ và phân phối
- McMurdo lưu trữ hàng trăm nghìn gallon nước đã xử lý
- Dân số mùa hè cao điểm có thể vượt 1.000 người
- Cũng cần nước cho chữa cháy nên đòi hỏi dung lượng lưu trữ đáng kể
Nước ngọt ở Cực Nam: bắt đầu từ Rodwell
- Trạm Cực Nam không có nguồn nước lỏng và nằm trên cao nguyên nội địa lạnh giá, cách bờ biển hàng trăm dặm
- Nước được tạo ra bằng cách làm tan lớp tuyết dày hàng nghìn feet
- Tuyết ở độ sâu lớn có nhiệt độ khoảng -60°F
- Để tăng nhiệt cho 1 gallon nước thêm 1°F cần 2,44Wh, tức 8,33BTU
- Từ -60°F lên 50°F cần 268Wh
- Nếu tính cả nhiệt nóng chảy tiềm ẩn khi chuyển từ rắn sang lỏng thì cần thêm 350Wh mỗi gallon, tổng cộng khoảng 618Wh
- Nguồn cấp nước tại Cực Nam bắt đầu từ Rodwell
- Rodwell là viết tắt của “Rodriguez Well”
- Thiết kế ban đầu do Raul Rodriguez tạo ra cho một trại ở Greenland
- Hệ thống đang vận hành hiện nay chính thức là “Rodwell 3”
- Nhiều vị trí Rodwell sẽ dùng trong tương lai cũng đã được lên kế hoạch
- Nguyên lý hoạt động cơ bản của Rodwell khá đơn giản
- Khoan một lỗ trong tuyết
- Bơm nước nóng vào để làm tan tuyết
- Nước sẽ tiếp tục làm tan khu vực xung quanh và tạo thành một hồ ngầm
- Dùng bơm kéo nước lỏng từ hồ ngầm lên
- Tiếp tục tuần hoàn nước nóng để duy trì và mở rộng hồ ngầm
- Tòa nhà hỗ trợ Rodwell có thiết bị điều khiển và giám sát, đồng thời được sưởi ấm
- Giếng kéo sâu xuống hàng trăm feet
- Bên trong có đường ống đưa nước lên, đường ống đưa nước nóng trở lại xuống dưới, dây điện cho bơm chìm, cùng dây tín hiệu cho cảm biến và mạch điều khiển
Tuần hoàn Rodwell và chống đóng băng
- Nước từ Rodwell được đưa tới nhà máy xử lý nước chính cách đó vài trăm feet
- Một phần được dùng làm nước sinh hoạt cho trạm
- Phần còn lại đi qua bộ trao đổi nhiệt của nhà máy rồi quay trở lại Rodwell
- Nước thô bơm từ Rodwell lên có nhiệt độ khoảng 36°F
- Sau khi đi qua nhà máy xử lý và bộ tiếp xúc đá vôi, nó đạt khoảng 42°F
- Nước tuần hoàn quay về Rodwell được gia nhiệt tới khoảng 84°F
- Tòa nhà hỗ trợ Rodwell có nồi hơi dự phòng và bộ trao đổi nhiệt
- Mục đích là để Rodwell luôn nhận được nước nóng ngay cả khi đường ống hồi từ nhà máy xử lý về Rodwell gặp sự cố
- Nếu mất vòng tuần hoàn nước nóng thì Rodwell có nguy cơ bị hư hại
- Việc cấp nhiệt liên tục là điều kiện cốt lõi để Rodwell hoạt động
- Rodwell được sử dụng trong vài năm
- Khi trở nên quá lớn, quy mô có thể đạt tới hàng triệu gallon
- Sau đó không còn dùng làm nguồn cấp nước ngọt nữa mà khởi tạo Rodwell mới ở vị trí khác
- Rodwell cũ được chuyển thành nơi lưu trữ nước thải
- Có thể xem thêm tài liệu lịch sử về Rodwell tại trang South Pole Station của Bill Spindler
Nhà máy xử lý nước ở Cực Nam
- Nước từ Rodwell đi qua các ice tunnels ngầm tới nhà máy xử lý nước chính
- ice tunnels là mạng lưới hành lang tiện ích ngầm được đào trong lớp tuyết nén cứng
- Đường ống có cách nhiệt và heat trace
- Nhà máy xử lý nằm trong các arches cạnh nhà máy điện, ở phần dưới của beer can
- Điều này giúp dễ sử dụng bộ trao đổi nhiệt với glycol loop mang nhiệt thải từ máy phát điện ở nhà máy điện bên cạnh
- Nước vào nhà máy xử lý trước tiên đi qua bộ tiếp xúc đá vôi
- Bộ này bổ sung khoáng chất để tăng pH của nước
- Giúp tăng khả năng chống ăn mòn và khiến nước phù hợp hơn cho con người uống
- Có thể đưa bộ tiếp xúc vào hoặc ra khỏi hệ thống tùy theo mục tiêu xử lý
- Tất cả nước, kể cả nước quay lại Rodwell, đều đi qua bộ này
- Phần nước dùng làm nước sinh hoạt sẽ được xử lý thêm
- Đi qua bộ lọc cặn và bộ lọc carbon
- pH được điều chỉnh tinh hơn bằng natri cacbonat, tức soda ash
- Clo ở dạng calcium hypochlorite được dùng làm chất khử trùng
- Nước sinh hoạt đã xử lý được lưu trong các bồn chứa lớn không tăng áp
- Có 2 bồn để vẫn có thể vận hành khi một bồn dừng cho bảo trì
- Mỗi bồn chứa quy mô hàng nghìn gallon
- Chúng đóng vai trò bộ đệm lưu trữ cho các gián đoạn có kế hoạch hoặc ngoài kế hoạch của nguồn cấp Rodwell hay quá trình xử lý
- Chất lượng nước được kiểm tra tại nhiều điểm trong quá trình xử lý và phân phối
- Có điểm lấy mẫu tại đầu ra bồn chứa nước đã xử lý, ngay trước khi nước được đưa tới bơm nước sinh hoạt để tăng áp
- Trên bàn thí nghiệm của nhà máy có các dụng cụ đo kiểm
Phân phối nước sinh hoạt và thiết bị bên trong trạm
- Bước cuối của xử lý nước sinh hoạt là tăng áp và lưu trữ lượng cấp ổn định
- Bơm nâng nước đã xử lý lên mức áp suất phân phối của trạm
- Bồn phân phối nước tăng áp lưu trữ phần nước dùng trong trạm
- Nước đi từ bồn của nhà máy xử lý lên theo beer can để vào elevated station
- Có đoạn nâng thẳng đứng khoảng 50 feet nên phải tính đến trong thiết lập áp suất của hệ thống phân phối
- Do beer can không được sưởi, đường ống phải được cách nhiệt
- elevated station cũng có bồn tăng áp cho chữa cháy
- Toàn trạm được lắp đặt hệ thống sprinkler chữa cháy tự động
- Các điểm sử dụng nước trong trạm nhìn chung giống các tòa nhà thông thường
- dish pit trong nhà bếp là một trong những nơi tiêu thụ nhiều nước
- Phòng giặt hoạt động tương tự phòng giặt trong gia đình
- Đa số máy giặt chỉ nối nước lạnh để tiết kiệm năng lượng, chỉ một số ít được nối cả nước nóng và lạnh
- Máy sấy dùng bộ trao đổi nhiệt trực tiếp nối với glycol heating loop của tòa nhà thay vì gia nhiệt điện trở
- Phòng tắm và vòi nước uống cũng nằm trong elevated station
- Vòi nước uống là mẫu Elkay EZS8SF với phụ kiện bổ sung LK1110 glass filler
Cách xử lý nước thải ở Cực Nam
- Nước thải ở Cực Nam được xử lý theo cách hoàn toàn khác so với McMurdo
- McMurdo cho nước thải đi qua quy trình xử lý hoàn chỉnh
- Nước thải đã xử lý được xả ra biển, còn chất rắn được chuyển về Mỹ để tiêu hủy
- Ở Cực Nam, các Rodwell hết vòng đời được dùng làm nơi lưu trữ nước thải
- Khi Rodwell đạt kích thước tối đa, nó không còn được dùng để hút nước ngọt nữa
- Sau đó được chuyển đổi thành “sewage outfall” để chứa nước thải
- Nước thải chưa qua xử lý và các loại nước thải khác chảy tới sewage outfall hiện tại qua mạng lưới ống cống
- Chúng được lưu trữ vô thời hạn dưới lòng đất
- Không có xử lý nước thải trước khi bơm xuống dưới
- Dưới outfall bên dưới trạm Cực Nam hiện lưu trữ hàng triệu gallon nước thải chưa xử lý
- Tính đến tháng 6/2024, nhà máy xử lý nước thải cho trạm Cực Nam hiện chưa được lập kế hoạch hay phân bổ ngân sách
- Tuy vậy, vấn đề này đã nhiều lần được thảo luận trong lịch sử trạm Cực Nam
- Tài liệu South Pole Station Master Plan Draft 2024 trên website NSF có đưa nhà máy xử lý nước thải vào phần khuyến nghị
- Cách thải bỏ bằng cách bơm nước thải chưa xử lý xuống dưới lớp băng được Antarctic Treaty System cho phép
- Trong luật Mỹ, điều này được quy định tại 45 CFR § 671.12(f)
Thu gom nước thải, xả thải và giới hạn của các tòa nhà bên ngoài
- Nước thải từ elevated station đi từ các đường thoát nước sinh hoạt vào holding pit
- elevated station có 2 holding pit chính
- holding pit có hai mục đích
- Cung cấp bộ đệm lưu trữ tạm thời để vẫn có thể dùng hệ thống ống nước trong trạm khi bảo trì đường ống xả hoặc sewer outfall
- Tích đầy nước thải rồi xả cưỡng bức với lưu lượng cao hơn để vận chuyển chất rắn lơ lửng hiệu quả hơn
- Nếu nước thải chảy tới sewer outfall đúng theo tốc độ phát sinh, chất rắn có thể lắng lại trên đường và gây tắc nghẽn
- holding pit của “B” pod nằm trong Emergency Power Plant
- Khu vực này là một phần của “lifeboat”, tức cánh hạ tầng dự phòng có thể hoạt động độc lập nếu phần còn lại của trạm bị hư hại
- Thông thường xả vào sewage/wastewater outfall chính
- Nếu outfall chính có vấn đề, cũng có thể xả sang emergency outfall nhỏ hơn
- Cùng không gian này còn có hạ tầng xử lý nước khẩn cấp để tạo potable domestic water bằng cách làm tan tuyết
- wastewater pit của “A” pod nằm trong phòng cơ khí lớn ở tầng 1 của A pod
- Nước thải từ toàn bộ thiết bị của A pod chảy về đây nhờ trọng lực
- Sau đó được xả vào outfall chính
- Khi pit đầy, nó tự động xả ra sewer outfall
- Tuyến đi nhìn chung tương tự đường ống cấp nước sinh hoạt
- Nó rời trạm, đi xuống beer can, qua ice tunnels và tới sewer outfall hiện tại
- heat trace được dùng để ngăn nước thải bị đóng băng cho tới đoạn thẳng đứng cuối cùng
- Không phải mọi tòa nhà ở Cực Nam đều được nối vào hệ thống ống nước
- Chỉ elevated station và power plant arch có running water và kết nối wastewater
- Các tòa nhà bên ngoài như IceCube, MAPO, DSL, ARO ở quá xa và cho tới nay việc kết nối vẫn chưa hiệu quả về chi phí
- Cũng có các phương án thay thế cho những người làm việc bên ngoài trạm
- Vào mùa hè, do dân số đông hơn nên có porta-potty được đặt quanh khuôn viên
- Chất thải trong porta-potty khi đầy phải được đưa trở lại trạm
- Các tòa nhà ngoài trời cố định dùng nhiều giải pháp khác nhau, từ xô đến dry toilet có khoang chứa tháo rời
- Người đi xa có thể mang theo chai USAP 32oz HDPE Nalgene; chai được cấp vào đầu mùa và phải được vệ sinh, khử trùng trước khi trả lại trước lúc lên đường
Hạ tầng thiết yếu nhưng vô hình
- Khi mở vòi nước trong elevated station, nó hoạt động như trong một tòa nhà bình thường, nhưng phía sau là cả hệ thống Rodwell, ice tunnels, heat trace, bộ trao đổi nhiệt glycol và các bồn tăng áp liên kết với nhau
- Hệ thống nước và nước thải ở Cực Nam vận hành trong điều kiện giá lạnh cực độ, gió mạnh, tuyết liên tục tích tụ, chuỗi tiếp vận kéo dài, cùng những khó khăn trong việc bảo đảm nhân lực chuyên môn và phụ tùng dự phòng
- Đây là hạ tầng cốt lõi giúp con người có thể sống và làm việc tại điểm cực nam của Trái Đất
1 bình luận
Ý kiến trên Hacker News
Những bài như thế này lúc nào cũng thú vị, cho ta nhìn vào cách con người duy trì sự sống theo những cách xa lạ như ở trạm Nam Cực
Toàn bộ hoạt động trông như đang đứng trên lưỡi dao giữa một bên là entropy liên tục lấn tới và bên kia là năng lượng phải bỏ ra để ngăn nó lại, nên cũng âm thầm đáng sợ. Nếu máy phát điện gặp vấn đề thì mọi thứ sẽ sụp đổ nhanh đến mức nào; việc rốt cuộc nhiên liệu là thứ chống đỡ tất cả càng được cảm nhận rõ hơn trong môi trường đặc biệt lạnh giá
Tôi cũng muốn đọc bài về việc bảo trì các cơ sở như thế này. Sẽ còn hay hơn nếu là những câu chuyện về các vấn đề từng đe dọa sự tồn tại của trạm và cách họ vượt qua. Dù có thiết kế dự phòng, đã ở trong thế giới vật lý thì có vẻ hỏng hóc là điều không thể tránh khỏi
Cũng có một công thức pha riêng cho vùng cực là AN8. Có nhiều thiết kế dự phòng và tại chỗ cũng có thiết bị để sửa chữa: https://www.jeffreydonenfeld.com/blog/2012/12/the-south-pole...
Lúc nào cũng vui khi thấy bài của brr.fyi trên HN
Sống ở Nam Cực gần như giống sống trên một hành tinh ngoài Trái Đất
Nghĩ đến việc có một lượng khổng lồ phân bị chôn dưới Nam Cực thì thật kỳ lạ
Có những thứ tốt hơn là không nên biết
Nhìn theo hướng lạc quan lúc nào cũng tốt
Nam Cực có thể vẫn nguyên như vậy trong hàng triệu năm, rồi người ngoài hành tinh hạ cánh và phát hiện một hồ nước bí ẩn bổ sung, đầy đủ mọi loại vi sinh vật
Một chi tiết còn thiếu: cơ sở đầu tiên mà OP nhắc đến, nhà máy khử mặn McMurdo, trước đây từng chạy bằng năng lượng hạt nhân, nhưng đã bỏ cách đó và hiện dùng diesel
https://en.wikipedia.org/wiki/McMurdo_Station#Nuclear_power_...
Diesel nghe thực tế hơn nhiều
https://theconversation.com/remembering-antarcticas-nuclear-...
Tôi luôn thích những bài trên HN đào sâu vào các chủ đề thú vị kiểu này
Hơi ngạc nhiên là cả ảnh cũng toàn dùng độ Fahrenheit. Đường hầm băng thật sự rất ngầu. Nếu lớn lên cùng Star Wars thì ai lại không thích thứ như vậy chứ?
Trước khi Rodwell đầu tiên hoàn thành thì nước thải đi đâu?
Có nhiều chuyện về cửa xả nước thải, đường ống đóng băng, thay bơm nâng. Có lẽ là một cái hố đào dưới đất
Ở các công trình bên ngoài không có hệ thống cống hay hạ tầng nước, cách này vẫn còn được dùng. Câu trả lời có lẽ nằm đâu đó trên southpolestation.com của Bill Spindler
Nhà vệ sinh tạm này chỉ được tạo ra bằng không khí nóng. Nước uống thì lấy từ hang tuyết và xúc bằng xẻng vào thiết bị làm tan nước
“Để làm nóng lượng tương đương 1 gallon nước từ -60°F lên mức nhiệt độ phân phối hợp lý là 50°F, phải tăng tới 110°F. Chỉ riêng việc đưa 1 gallon nước lên nhiệt độ phân phối đã cần 268Wh năng lượng thuần!”
Trên thực tế còn lớn hơn thế. Vì chuyển pha từ rắn sang lỏng cũng tiêu tốn rất nhiều năng lượng
330kJ/kg, tức 1250kJ mỗi gallon, khoảng 350Wh. Vì vậy năng lượng cần để rã đông 1 gallon nước còn lớn hơn phần tăng nhiệt 110°F còn lại
Trong thuật ngữ vật lý gọi là nhiệt nóng chảy tiềm ẩn, tức năng lượng cần thiết để gây ra sự chuyển trạng thái giữa lỏng và rắn. Vài năm trước tôi thấy ai đó tính năng lượng cần để làm tan băng trước đầu máy xe lửa đang chạy; nếu nhớ không nhầm thì cần mức năng lượng cỡ một lò phản ứng hạt nhân không nhỏ. Không thực tế
Tôi thấy sốc khi ở một trạm khoa học như vậy mà họ lại dùng độ Fahrenheit để đo nhiệt độ nước
Tôi đã mất cả tuần để tìm một con ốc vít hệ mét có kích cỡ cụ thể, và nỗi đau đó là thật
Trước hết cần nói rõ: phần lớn căn cứ không phải là “khoa học” mà là hạ tầng nơi con người sinh sống. Những người bảo trì tòa nhà quen với hệ yard-pound, nên dùng các đơn vị đó là hợp lý. Vật liệu và linh kiện dùng để sửa chữa cũng được mua từ các công ty Mỹ, và trong nhiều trường hợp về mặt pháp lý cũng là như vậy
Ví dụ, khi đi tuần hằng ngày ở nhà máy điện, mọi số đo nhiệt độ của động cơ đều là F. Trên thực tế, mọi nhiệt kế chất lỏng lắp inline đều đọc theo F. Tất cả bộ điều nhiệt trong nhà cũng là F. Kích thước tòa nhà nhiều khả năng cũng gần như toàn bộ được chỉ định bằng foot
Vì vậy đơn vị nhiệt độ nước không quan trọng lắm. Ở đây không phải nghiên cứu về nước; ngoài công việc kỹ thuật tính toán lưu lượng xử lý, thứ cần thiết chỉ là nguồn cung ổn định và uống được
Khí tượng được báo cáo theo hệ mét. Vì METAR là định dạng chuẩn. Tuy nhiên, khi sang lĩnh vực hàng không thì độ cao lại thường được dùng bằng foot
Nhưng kính thiên văn thì thật sự tệ. Phần cứng hệ yard-pound nằm khắp nơi. Dù vậy mảng nhiệt độ siêu thấp thì dùng Kelvin
Trong những bối cảnh mà thiên kiến theo chuẩn con người không có lợi, có lẽ họ sẽ không dùng Fahrenheit
Hơn nữa phần lớn thiết bị, đặc biệt là những thứ như đường ống, chắc là sản phẩm của nhà cung cấp Mỹ; khi đó mua theo đơn vị inch sẽ dễ hơn nhiều
Một người bạn làm việc ở phía bắc nói rằng anh ấy từng nhặt được thiên thạch trong tuyết được nấu chảy để làm nước dùng
Tôi tự hỏi liệu dưới đáy Rodwell có tích tụ một ít bụi thiên thạch không
Trước đây người ta từng thả nam châm xuống để thu hồi đồ bị rơi, chẳng hạn như dụng cụ. Khi kéo nam châm lên thì có bột kim loại bám theo. Nhưng vì nước liên tục được tuần hoàn lại, rất khó bác bỏ phản biện rằng đó chỉ là các hạt mài mòn từ đường ống hoặc máy móc khác. Điều này giả định rằng trong hệ tuần hoàn có vật liệu chứa sắt
Thú vị thật
“Để làm nóng lượng nước tương đương 1 gallon từ -60°F lên mức nhiệt cấp phát hợp lý là 50°F, cần tăng tới 110°F. Chỉ riêng việc đưa 1 gallon nước lên nhiệt độ cấp phát đã cần 268Wh năng lượng thuần! Đây là một trong những lý do vòi sen bị giới hạn 2 phút”
Có lẽ mọi người đọc đoạn này nên thử sống một tuần với mỗi ngày một lần tắm vòi sen 2 phút, để xem mình có thể ứng tuyển công việc này không
Nó không khó như nghe qua. Làm ướt người rồi tắt nước, xát xà phòng, xả lại, rồi tắt. Nếu luyện tập, chỉ dùng nước 20–30 giây cũng có thể khá sạch
Tuy nhiên thì không thỏa mãn lắm. Nếu tóc dài hoặc dùng dầu xả thì khó hình dung con số này sẽ tăng lên thế nào
Nếu không làm việc cực kỳ nặng về thể lực hoặc những việc nhiều bụi bẩn, bùn đất, thì không cần tắm toàn thân mỗi ngày
Khi tạo thói quen tôi đặt giờ 5 phút, nhưng giờ tự nhiên còn khoảng 2 phút. Tất nhiên cái “lạnh” ở Colorado khác với cái “lạnh” ở Nam Cực. Nhưng nếu không mải tận hưởng xa xỉ trong hơi nước và suy nghĩ về việc tắm, thì 2 phút là đủ cho một lần tắm vòi sen